Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

Thác Bản Giốc, những căn cứ pháp lý



(PHẢN BIỆN BÀI TRẢ LỜI CỦA ÔNG TRẦN CÔNG TRỤC[1])
Mai Thái Lĩnh
Trước hết, tôi ghi nhận thiện ý của ông Trần Công Trục khi ông viết: “tôi mong muốn thông qua quá trình trao đổi, đối thoại để thu hẹp khoảng cách trong nhận thức xã hội về vấn đề chủ quyền lãnh thổ sao cho có lợi nhất cho công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hợp pháp của quốc gia, dân tộc, đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông ngày càng gia tăng và tiềm ẩn những nhân tố khó lường.”


Tuy nhiên, để có thể “thu hẹp khoảng cách” trong nhận thức của xã hội về vấn đề chủ quyền lãnh thổ, chúng ta không thể dựa trên ý chí của từng cá nhân, từng nhóm người hay thậm chí dựa trên ý chí của một đảng chính trị – cho dù đảng đó đang nắm giữ bộ máy Nhà nước. Khoảng cách đó chỉ có thể được thu hẹp và tạo nên sự đồng thuận một khi dựa trên quyền lợi chung của toàn dân tộc, và nhất là phải tôn trọng sự thật. Ngày nay, với phương tiện truyền thông có tính toàn cầu, không thể bưng bít sự thật hay tìm cách khuôn sự thật theo ý muốn của một cá nhân hay một nhóm người nào cả.

Về những bằng chứng lịch sử liên quan đến Thác Bản Giốc, tôi có một cách nhìn hoàn toàn khác với ông Trần Công Trục, bởi vì đối với đường biên giới Việt-Trung – vốn là một đường biên giới có lịch sử lâu đời và có liên quan đến sự tồn vong của dân tộc ta, đất nước ta, không thể không đề cập đến phương diện lịch sử. Hơn thế nữa, những bằng chứng lịch sử đó có từ rất lâu – trước khi Đảng Cộng sản nắm chính quyền trên toàn miền Bắc, thậm chí trước khi Đảng Cộng sản ra đời, vì thế không thể nói rằng đó là kết quả của “hệ thống tài liệu tuyên truyền chính thức” trong giai đoạn cuối thập niên 1970 – khi quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng. Chính vì lẽ đó, tôi đã giới thiệu lại các bài viết của ông Diệp Đình Huyên (tức Hàn Vĩnh Diệp) để chứng minh rằng “Thác Bản Giốc hoàn toàn thuộc về Việt Nam” từ rất lâu và suốt trong thời kỳ quan hệ giữa hai nước vẫn còn hữu hảo, phía Trung Quốc không hề thắc mắc gì về “sự thật” này. Hơn thế nữa, nếu Việt Nam thật sự là một quốc gia dân chủ bảo đảm đầy đủ quyền tự do ngôn luận cho mọi công dân thì sẽ có rất nhiều người noi gương ông Diệp Đình Huyên sẵn sàng đứng ra làm nhân chứng cho “sự thật” đó.

Trong phạm vi của bài phản biện này, tôi tạm thời gác lại khía cạnh lịch sử của chủ đề “Thác Bản Giốc”, để tập trung bàn về những căn cứ pháp lý.

1) Tại sao các tài liệu liên quan đến Thác Bản Giốc và Cồn Pò Thoong không được mang đi đàm phán?

Ông Trần Công Trục viết: “Về nguyên tắc chung tôi đã nói rõ trong bài phỏng vấn ngày 3/9 trên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam cũng như nhiều lần đã phân tích, các tài liệu ông Lĩnh nêu ra trên đây mặc dù là tài liệu chính thức của các cơ quan nhà nước Việt Nam ban hành công khai và rộng rãi thời kỳ những năm 1979 nhưng không được xem là “căn cứ pháp lý” được thỏa thuận để làm cơ sở giải quyết tranh chấp biên giới phía Bắc, vì rõ ràng các tài liệu này không phải là bộ phận cấu thành của  Công ước Pháp – Thanh 1887, 1895 mà 2 nước Việt Nam, Trung Quốc đã thỏa thuận lấy làm căn cứ pháp lý  để hai bên tiến hành hoạch định biên giới.”

Như vậy, theo ông Trục, các tài liệu này không được sử dụng vì “không phải là bộ phận cấu thành của  Công ước Pháp – Thanh 1887, 1895 mà 2 nước Việt Nam, Trung Quốc đã thỏa thuận lấy làm căn cứ pháp lý  để bai bên tiến hành hoạch định biên giới.”

Thế nhưng, việc lấy hai công ước Pháp-Thanh 1887 và 1895 để làm cơ sở đàm phán trong vấn đề biên giới không phải là điều mới mẻ. Theo cuốn VĐBG (Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc)[2] thì vào năm 1977, để phá vỡ thế bế tắc trong đàm phán biên giới, phía Việt Nam đã đưa ra một “dự thảo hiệp định”[3], trong đó điều 1 có nội dung như sau:

[Điều 1] Hai bên chính thức xác nhận đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hoạch định và cắm mốc theo các văn kiện về biên giới ký kết giữa Chính phủ Cộng hoà Pháp và Chính phủ nhà Thanh Trung Quốc là đường biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. 

Các văn kiện biên giới đó gồm có: (1) Công ước về hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc ký ngày 26 tháng 6 năm 1887, với các biên bản và bản đồ hoạch định kèm theo. (2) Công ước bổ sung Công ước về hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc ngày 26 tháng 6 năm 1887, ký ngày 20 tháng 6 năm 1895, với các biên bản và bản đồ hoạch định kèm theo. (3) Các biên bản và bản đồ cắm mốc thực hiện hai Công ước nói trên ký kết từ ngày 15 tháng 4 năm 1890 đến ngày 13 tháng 6 năm 1897, ngày hoàn thành việc cắm mốc đoạn đường biên giới giữa Bắc Kỳ (Việt Nam) và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Trong các điều khoản sau đây, các văn kiện về biên giới nói trên được gọi tắt là “ Công ước 1887 và Công ước 1895”.

Nội dung này không có gì khác với “nguyên tắc chung” mà ông Trần Công Trục nêu ra.
Vấn đề đặt ra là : tại sao dựa vào điều khoản căn bản đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam vào cuối thập niên 1970  vẫn có đủ căn cứ pháp lý để khẳng định rằng phía Trung Quốc đã “vi phạm  ngày càng nghiêm trọng sự thoả thuận đó và không tôn trọng nguyên tắc giữ nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại, và đã lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở 90 điểm trên toàn tuyến biên giới Việt Trung từ 1949 đến nay.”?[4] Bất cứ ai đọc được điều này cũng có thể đặt câu hỏi: Bộ Ngoại giao Việt Nam vào thời kỳ đó đã căn cứ vào hệ thống bản đồ nào và những chứng cứ pháp lý nào để khẳng định Trung Quốc vi phạm đường biên giới?

Mặt khác, ông Trần Công Trục lại viết: “Tôi không phủ nhận những giá trị của các tài liệu chính thức của ta mà ông Mai Thái Lĩnh đề cập, nhưng nó chỉ có giá trị trong thời điểm đó và bối cảnh đó, những tài liệu như vậy không thể mang đi đàm phán.”

Điều này quả thật rất khó hiểu. Hãy lấy một ví dụ: các tài liệu chứng minh “vào năm 1976 Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm chiếm cồn Pò Thoong – một địa điểm hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam” thì cho dù vào năm 1979 hay vào năm 1999 cũng đều có giá trị như nhau chứ sao lại “chỉ có giá trị vào năm 1979” và đến thập niên 1990 lại “không thể mang đi đàm phán”?

Để hiểu rõ vấn đề này, có lẽ chúng ta cần phải tìm hiểu ý nghĩa của các tài liệu mà tôi nêu ra trong bài “Sự thật về Thác Bản Giốc”:

- Tài liệu 1 về việc Trung Quốc đã “sửa bản đồ” vào năm 1955-56 để âm mưu chiếm cồn Pò Thoong và một phần Thác Bản Giốc: đây chính là bằng chứng về việc Trung Quốc đã sửa chữa bản đồ, làm sai lạc vị trí của cột mốc 53; nói cách khác qua tài liệu này chúng ta được biết cột mốc 53 nằm ở vị trí khác chứ không phải nằm ở vị trí của cột mốc 835 (mới) hiện nay (xem bản đồ – hình 1 và hình 2):

1
Hình 1 : Sơ đồ Thác Bản Giốc được phân chia lại
2
Hình 2: Bản đồ khu vực Thác Bản Giốc hiện nay. Cột mốc 835 chính là vị trí mới của cột mốc 53

- Tài liệu (2) về việc xây dựng trạm thủy văn trên cồn Pò Thoong vào thập niên 1960: chứng minh vào thập niên 1960, cồn Pò Thoong hoàn toàn thuộc về Việt Nam;

- Tài liệu (3) về việc Trung Quốc đưa quân lấn chiếm cồn Pò Thoong vào năm 1976 : chứng minh Trung Quốc đã lấn chiếm cồn Pò Thoong bất hợp pháp, vì vậy việc chia cồn này theo công thức “1 phần 4 thuộc về Việt Nam, 3 phần 4 thuộc về Trung Quốc” là hoàn toàn bất hợp lý;

- Tài liệu (4) gồm hai tờ bản đồ Trùng Khánh số hiệu 6354-IV do Quân đội Nhân dân Việt Nam in vào những năm 1976 và 1980: cho phép xác định vị trí của các cột mốc cũng như đường biên giới một cách chính xác (xem bản đồ tại hình 3).

3
Hình 3 : Vị trí nguyên thủy của cột mốc 53 (Trích bản đồ Trùng Khánh 6354-IV)

Có thể nói: từ bỏ các tài liệu đó đồng nghĩa với việc từ bỏ các vũ khí pháp lý hữu hiệu nhất để bảo vệ “chủ quyền của nước ta đối với cồn Pò Thoong và toàn bộ Thác Bản Giốc”.

Theo ông Trần Công Trục: “Những người làm công tác đàm phán chúng tôi đã nghiên cứu kỹ các tài liệu ông Mai Thái Lĩnh vừa nêu nên chúng tôi rất hiểu và chia sẻ những băn khoăn của dư luận cũng như của ông Mai Thái Lĩnh.” Nếu đã nghiên cứu kỹ thì các vị làm công tác đàm phán không lẽ không biết vị trí nguyên thủy của cột mốc 53? Không lẽ các vị không biết Trung Quốc đã sửa bản đồ để âm mưu chiếm cồn Pò Thoong và một phần Thác Bản Giốc? Không lẽ các vị không biết Trung Quốc đã chiếm cồn Pò Thoong vào năm 1976 và đã “cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới” và như vậy là đã làm biến dạng cồn Pò Thoong?

2) Tại sao lại công nhận vị trí mới của cột mốc 53?

Nhưng tại sao trong khi từ bỏ các chứng cứ pháp lý có sẵn trong tay, các nhà ngoại giao nước ta lại “sốt sắng” công nhận vị trí mới của cột mốc số 53 được đoàn khảo sát “phát hiện” ra tại một địa điểm ngay trước mặt cồn Pò Thoong?

Vào năm 2002, ông Lê Công Phụng trả lời phóng viên Thu Uyên của VASC Orient[5] như sau:
VASC Orient: Chẳng nhẽ tất cả các khách du lịch, trong đó có những người có trách nhiệm, đi thăm thác Bản Giốc mà không phát hiện ra cột mốc nằm đó hay sao?

Ông LCP: Cột mốc không nằm sát Bản Giốc. Khi chúng tôi khảo sát thì mới thấy cột mốc nằm trên một cồn nhỏ ở giữa suối, cách đấy khoảng mấy trăm thước. Vì vậy nên cũng không mấy ai quan tâm đến cột mốc ở thác Bản Giốc.

Điều kỳ lạ là không biết dựa vào bằng chứng nào, ông Lê Công Phụng lại công nhận cột mốc đã được cắm ở đó từ đời nhà Thanh:

VASC Orient: Tức là cột mốc đang tồn tại đã được cắm từ thời Thanh?

Ông LCP: Đúng vậy. Cột mốc đang tồn tại đã được cắm từ thời Thanh, xác định chỉ có chưa được một nửa thác Bản Giốc là ở bên phía ta. Theo quy định quốc tế, khi phân giới cắm mốc thì thác được coi như một dòng sông, một dòng suối. Đã là sông suối thì đường biên giới đi qua luồng chính, tức là chỗ tàu thuyền đi lại được. Còn đối với sông suối nơi tàu thuyền không đi lại được, thì đường biên giới phải đi theo rãnh sâu nhất.

4
Hình 4: Thứ trưởng Ngoại Giao Việt Nam Vũ Dũng trả lời phỏng vấn Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hoạt – Tổng Biên Tập báo Dân Quyền (2009)

Vào năm 2009, ông Vũ Dũng – lúc đó là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, đã dành cho báo Dân Quyền ở Hoa Kỳ một cuộc trả lời phỏng vấn, qua đó ông cho biết:

Trước khi ký hiệp ước 1999, chúng tôi đã cử rất nhiều đoàn đi khắp thế giới để tìm các hồ sơ liên quan đến Thác Bản Dốc, vào tất cả các kho lưu trữ và tìm được một bản đồ tốt nhất về vị trí Thác Bản Dốc. Căn cứ theo bản đồ, đường biên giới đi theo trung tuyến của sông Quây Sơn (đúng như công ước Pháp – Thanh mô tả), khi đó, vẽ đường biên giới đi ở nhánh phía bắc của cồn Pò Tho, có diện tích khoảng 2,7 ha. Ngay bản đồ tốt nhất mà ta tìm được, thác này vẫn là thác chung. Tôi xin khẳng định ta không có bất kỳ tài liệu gì cho thấy thác Bản Dốc là của Việt Nam. Nói về luật pháp quốc tế, sông này là sông chung, thác này không thể là thác riêng được, không thể có nước nào chấp nhận.”[6]
 5
Tại sao phải cử nhiều đoàn đi khắp thế giới để tìm kiếm trong khi ngay tại Việt Nam đã có những bản đồ 1/50000 rất chính xác? Nhưng “tấm bản đồ tốt nhất” mà ông Vũ Dũng nói là bản đồ nào? Phải chăng đó chính là tấm bản đồ đã được công bố trong một bài báo đăng trên tờ Diễn đàn vào năm 2003?[7] Theo trình bày của ông Nguyễn Ngọc Giao, đây là bản đồ được tìm thấy tại Vụ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp:

5
Hình 5:Bản đồ tìm thấy tại Vụ lưu trữ Bộ ngoại giao Pháp

Nhìn bản đồ này, chúng ta thấy có nhiều nhược điểm: thể hiện không chính xác khu vực xung quanh thác, không có vòng cao độ, không có tọa độ địa lý, không xác định được mặt cắt của thác ba tầng, v.v… Nhưng đường biên giới vẽ trên bản đồ này vẫn cho thấy toàn bộ khu vực thác (hình trái xoan hơi giống quả trứng, trên có chữ chute) thuộc về lãnh thổ nước ta. Không có điều gì chứng tỏ “thác này vẫn là thác chung“. Nếu đặt bản đồ này bên cạnh bản đồ Trùng Khánh 6354-IV, nhờ có các vòng cao độ chúng ta có thể thấy rõ mặt cắt của thác nước nằm xiên góc theo hướng từ bắc – tây-bắc đến đông – đông-nam, và đường biên giới chạy giữa dòng sông về phía hạ lưu thác không hề động chạm gì đến mặt cắt của thác nước. Điều đó chứng tỏ toàn bộ thác nước thuộc về Việt Nam (xem hình 6). Nói cách khác, nếu các nhà đàm phán của Việt Nam có trong tay tấm bản đồ Trùng Khánh 6354-IV, thì họ càng có thêm chứng cứ để chứng minh toàn bộ Thác Bản Giốc là thuộc về lãnh thổ Việt Nam, và có thể xác định dễ dàng vị trí cũ của cột mốc 53.

6
Hình 6 : So sánh bản đồ tại Bộ Ngoại giao Pháp và bản đồ Trùng Khánh6354-IV

Bây giờ ta thử đặt bản đồ Trùng Khánh 6354-IV bên cạnh tấm bản đồ do Trung Quốc cung cấp[8] (xem hình 7).  Chúng ta sẽ thấy rõ: vạch răng cưa trên bản đồ thể hiện mặt cắt của thác nước gần như thẳng đứng theo hướng bắc-nam – khác hẳn thực tế. Hơn nữa, cột mốc 53 đáng lẽ nằm gần đầu mút phía bắc của vạch răng cưa đã bị dời đi một khoảng khá xa đến một vị trí đối diện với cồn Pò Thoong. Chính vì lẽ đó, đường biên giới đáng lẽ phân chia dòng Quây Sơn ở phía hạ lưu của thác nay lại cắt ngang cồn Pò Thoong và chia đôi phần thác chính cho phía Trung Quốc. Nói cách khác, nếu có tấm bản đồ Trùng Khánh trong tay thì ông Lê Công Phụng không thể xác định cột mốc 53 cắm ở vị trí đó “từ đời nhà Thanh” và ông Vũ Dũng không thể chia Thác Bản Giốc cho phía Trung Quốc.

7
Hình 7: So sánh bản đồ do Trung Quốc cung cấp với bản đồ Trùng Khánh 6354-IV

Ví dụ minh họa trên đây cho thấy: hoặc các nhà ngoại giao Việt Nam không hề biết đến các tờ bản đồ của QĐND, hoặc họ biết rõ (như lời ông Trần Công Trục đã nói) nhưng lại không được phép dùng, buộc phải sử dụng các tài liệu do Trung Quốc cung cấp. Nhưng nếu không biết thì tại sao ông Trần Công Trục lại khẳng định là đã nghiên cứu kỹ ? Mà nếu đã biết rõ thì tại sao quý vị lại dễ dàng công nhận vị trí mới của cột mốc 53, dẫn đến việc chia cồn Pò Thoong và Thác Bản Giốc? Chính những lời nói mâu thuẫn của các nhà ngoại giao Việt Nam tham gia đàm phán về Thác Bản Giốc đã bộc lộ sự lúng túng, bởi vì họ không dựa trên những tài liệu chính xác có tính khách quan, khoa học.

3) Tại sao không được phép sử dụng những tài liệu pháp lý mà Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng có sẵn trong tay?

Tại sao phía Việt Nam không được quyền sử dụng những tài liệu mà tôi đã nêu trên đây? Tại sao ông Trần Công Trục một mặt “ không phủ nhận những giá trị của các tài liệu chính thức của ta” nhưng lại cho rằng chúng “chỉ có giá trị trong thời điểm đó và bối cảnh đó” và đi đến kết luận “ những tài liệu như vậy không thể mang đi đàm phán”? “Thời điểm đó” và “bối cảnh đó” có gì khác với “thời điểm” cũng như “bối cảnh” sau này – tức là từ thập niên 1990 cho đến khi hoàn thành việc cắm mốc vào đầu năm 2009?


>> Đọc tiếp/ Nguồn


[1] “Ts Trần Công Trục trả lời ông Mai Thái Lĩnh về thác Bản Giốc“, Giáo dục Việt Nam, Thứ ba 10/09/2013:
http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Ts-Tran-Cong-Truc-tra-loi-ong-Mai-Thai-Linh-ve-thac-Ban-Gioc/316179.gd
[2] Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, Nxb Sự Thật, Hà Nội 1979
[3] Tên đầy đủ là “Dự thảo Hiệp định về đường biên giới quốc gia trên bộ giữa Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, VĐBG, sđd, tr. 21-26.
[4] VĐBG, sđd, tr. 8.
[5] Có thể xem nguyên văn bài phỏng vấn Thứ trưởng Ngoại giao Lê Công Phụng công bố trên VASC – Orient 2-2-2002 được lưu giữ tại địa chỉ:
http://home.scarlet.be/lngu1008/tl_pvlecongphung.html
[6] Tiến sĩ Nguyễn Hữu Hoạt – Tổng biên tập báo Dân Quyền phỏng vấn Thứ trưởng Ngoại Giao Vũ Dũng, Dân Quyền 13-3-2009:
http://danquyen.com/thamluan/thamluan13032009a.html
Tôi ghi nguyên văn, kể cả những lỗi chính tả (vd: Bản Dốc, Pò Tho, v.v…)
[7] Nguyễn Ngọc Giao, “Từ Nam Quan đến Bản Giốc”, Diễn Đàn  số 129 tháng 5/2003.
[8]  Bản đồ này cũng do báo Diễn đàn công bố trong bài báo nói trên.
[9] “Phải chặn đứng nguy cơ tái diễn kịch bản Thành Đô 1990”, Bauxite Vietnam 13/8/2013:

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2013

Giáo dục đang cần gì? – Nguyễn Xuân Thu

 

Năm 2012, báo Tuổi Trẻ và một số nhà xã hội học tổ chức thăm dò ngẫu nhiên 500 thí sinh thi tốt nghiệp PTTH thì có tới 423 thí sinh đánh giá có tiêu cực trong kỳ thi tốt nghiệp; điều đặc biệt là nhiều chuyên gia giáo dục không tỏ ra bất ngờ về kết quả thăm dò này. Trong khi đó, các phương tiện thông tin đại chúng và các nhà tuyển dụng thường xuyên than phiền về trình độ của nhiều tú tài. Vậy tỷ lệ đậu tốt nghiệp PTTH quá cao của một số năm gần đây là do gian lận?
Độ chênh giữa thi thử và thi thật
Trước kỳ thi tốt nghiệp PTTH một tháng, các thi sinh được cho thi thử mà công tác coi thi được coi là chặt chẽ, kết quả tỷ lệ thí sinh ở nhiều tỉnh, thành bị trượt rất cao. Nhưng khi thi thật, hầu hết các tỉnh, thành đều có kết quả đậu rất cao, trái hẳn với kết quả thi thử. Câu hỏi được đặt ra là: Giáo viên có khả năng cao trong hướng dẫn ôn luyện và học sinh của chúng ta có tài đến mức hấp thụ kiến thức một cách mau lẹ để thay đổi kết quả thi trong thời gian một tháng không? Kết quả thi thay đổi nhanh và nhiều như vậy có lẽ chỉ nhờ phép lạ, khi mà có tỉnh thi thử chỉ đạt 46,9% nhưng một tháng sau thi thật lại đạt tới 99,56%, thậm chí có trường thi thử PTTH chỉ đậu 2,2% (trường THPT iSchool, tỉnh Ninh Thuận) nhưng thi thật lên tới con số 99,56%. Vấn đề là trường này không phải là cá biệt. Cho dù những người có trách nhiệm quản lý ngành giáo dục nói kỳ thi tốt nghiệp năm 2012 diễn ra nghiêm túc nhưng nếu được hỏi điều gì đã làm biến đổi các con số trên, có lẽ đa số mọi người đều có câu trả lời như kết quả khảo sát của báo Tuổi trẻ và một số nhà xã hội học, đó là do có tiêu cực trong thi cử. Điều gì khiến tình trạng này liên tục tiếp diễn trong nhiều năm gần đây, và tại sao gần như là mọi người đang chấp nhận nó?
Giáo viên không dám làm đúng
Một độc giả là giáo viên từng gửi ý kiến trên báo Tuổi Trẻ (trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2012). Nội dung kể về việc, khi cô giáo này mới được phân công công tác, cô đã chấm điểm theo đúng trình độ học sinh khiến nhiều học sinh bị điểm thấp. Hiệu trưởng và tổ trưởng bộ môn yêu cầu cô nâng điểm nhưng cô không chấp hành nên đã bị họ trù dập và đồng nghiệp cô lập. Cuối cùng, cô giáo này phải chấp nhận “điều bình thường” như các giáo viên khác. Câu chuyện thực sự đau xót, vì việc làm đúng của cô giáo không được khuyến khích, động viên mà bị triệt tiêu, trù dập bởi “điều bình thường”. Nhưng cái đau lớn hơn là sự thiệt thòi cho tương lai của những học sinh không được thụ hưởng cái đúng đó, mà phải học tập trong môi trường giả dối của bệnh thành tích. Có lẽ cần tổ chức khảo sát ngẫu nhiên với các giáo viên để đánh giá hiện trạng và căn nguyên của bệnh thành tích này!
Học sinh không dám nói thật
Ngày 1/10/2012, báo Tuổi trẻ đăng ý kiến một độc giả, nội dung kể về việc con của người này thường than vãn là không thích cô giáo chủ nhiệm vì cô hay la mắng, không thương học trò. Sau đó, vị độc giả bàng hoàng khi đọc một bài viết của con, vì khen ngợi hết lời cô giáo chủ nhiệm khi cô yêu cầu cả lớp viết bài suy nghĩ, cảm nhận về cô giáo. Thắc mắc điều này với con và nhận được câu trả lời “phải viết như thế để yên ổn học hết năm lớp 3 này” của đứa con nhỏ, vị độc giả đã lạnh hết sống lưng. Và còn những bài văn tả người thân trong gia đình của các em học sinh tiểu học khác, đa phần các em lựa chọn cách viết theo bài văn mẫu để đạt điểm cao hơn là viết đúng thực tế và cảm tưởng. Đến nay, hiện tượng học sinh không dám nói thật, viết thật về suy nghĩ của mình không còn là cá biệt. Có lẽ ai cũng rõ xã hội phải gánh chịu hậu quả bởi những người trưởng thành biết cách dối trá, đối phó khi còn là học sinh nhưng các phụ huynh không thể không cho con đến trường.
Giáo dục đã bị nhiễm dối trá?
Khi hành vi tiêu cực trở nên phổ biến và đa số chấp nhận sống “chung với lũ”, người ta dễ dàng tìm ra được vô số lý lẽ để biện minh cho mình, thậm chí ngạc nhiên khi có người thắc mắc hoặc coi đó là điều hiển nhiên, không còn nhận ra nó là tiêu cực. Mặc dù trong từ điển tiếng Việt, định nghĩa của hai từ “tiêu cực” và “dối trá” ít có những điểm chung, nhưng quan điểm cá nhân tôi cho rằng, hiện tượng tiêu cực phát triển mạnh mẽ về số lượng và mức độ thì nó phải đang tồn tại trong không gian (môi trường) dối trá.
Kết quả từ cuộc khảo sát trên và những hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục được phản ánh rất nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng đặt ra vấn đề là giáo dục của chúng ta đã đến mức nhiễm thói dối trá chưa? Câu hỏi này rất cần những nhà quản lý giáo dục nghiên cứu trả lời thấu đáo. Khi câu trả lời là có thì sẽ có hàng loạt câu hỏi khác đặt ra như: dối trá ở những khâu nào? nguyên nhân xảy ra dối trá đó là gì? biện pháp phù hợp thay thế?… Biết đặt câu hỏi và trả lời nghiêm túc, chính xác, đầy đủ các câu hỏi, các nhà quản lý giáo dục sẽ có giải pháp đúng cho ngành giáo dục Việt Nam.
Câu hỏi đặt ra từ một đề thi
Còn nhớ, trong nội dung đề thi tốt nghiệp PTTH môn Văn năm 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các thí sinh phân tích một vấn đề “Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời sống xã hội”. Nhận thức được thói dối trá là hiện tượng của suy thoái đạo đức nhưng chỉ dừng lại như vậy thì chưa đủ, nó cũng là nguyên nhân lớn dẫn đến suy thoái đạo đức xã hội. Hay nói đúng hơn, có dối trá thì mới có suy thoái đạo đức. Trong đó, dối trá trong giáo dục là nguy hại nhất vì nạn nhân rộng lớn của nó (học sinh) có thể tiếp tục gieo rắc, nuôi dưỡng nó khắp nơi.
Các em học sinh đã làm xong đề thi trên, nhưng cả xã hội và hơn ai hết là những học sinh đang cần những nhà quản lý giáo dục trả lời câu hỏi “Thói dối trá trong thi cử nói riêng và giáo dục nói chung (nếu có) có mối quan hệ gì với hiện tượng suy thoái đạo đức xã hội?”. Suy nghĩ thấu đáo vấn đề này để thấy trách nhiệm lớn lao và đủ quyết tâm, dũng khí, ngành giáo dục mới có thể nghiên cứu, chọn lọc và áp dụng mạnh mẽ những ý kiến đóng góp tâm huyết, khoa học của chuyên gia và người dân, qua đó thực hiện thành công sự nghiệp giáo dục.
Các em học sinh cần nhiều đổi mới về giáo dục, trong đó cần lắm môi trường học tập trung thực!

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2013

PHẪN UẤT & VÌ SAO ?

SÚNG LẠI NỔ VÌ CHUYỆN ĐẤT ĐAI

Nguồn: http://huynhngocchenh.blogspot.com/2013/09/sung-lai-no-vi-chuyen-at-ai.html
 
Thái Bình
 
 
 

Hiện trường vụ nổ súng đang được kiểm tra
Một sự việc kinh hoàng vừa xảy ra tại tỉnh Thái Bình liên quan đến chính sách đất đai.
14 giờ ngày 11.9, Đặng Ngọc Viết đã tìm đến Ủy ban Nhân nhân TP Thái Bình (thuộc tỉnh Thái Bình) rồi bất ngờ xông vào Trung tâm Phát triển Quỹ đất, rút súng lần lượt bắn vào đầu từng cán bộ làm việc tại đây. Có 6 cán bộ đang làm việc, 5 người bị bắn, trong đó có 1 người bị bắn trượt, 3 người bị trọng thương và một người bị tử vong sau khi được đưa đến bệnh viện, đó là ông phó giám đốc Trung Tâm. Sau đó nghi phạm chạy về một ngôi chùa ở quê nhà rồi dùng súng tự sát. (Thông tin từ cơ quan chức năng đăng trên các báo).

Khi bị đẩy vào bước đường cùng trong cuộc đấu tranh hợp pháp bảo vệ mảnh đất của gia đình mình, anh em Đoàn Văn Vươn đành tuyệt vọng sử dụng biện pháp đấu tranh bạo động bất hợp pháp. Nhưng ngay khi thực hiện biện pháp bạo động thì anh em Đoàn Văn Vươn cũng nghĩ là phải làm mọi cách để hạn chế ít nhất việc gây ra thương tổn cho những người trong đoàn quân đi giải tỏa. Trước khi cho nổ quả bom gaz tự tạo và vài phát súng hoa cải thì anh em Vươn đã có cảnh báo trước để những người nhận lệnh đi giải tỏa đề phòng. Và tiếng nổ của quả bom cũng nhằm vào mục đích gây tiếng vang và cảnh báo hơn là nhằm vào mục đích gây sát thương để thỏa lòng thù hận. Chính vì lẽ đó mà nhân viên công lực bị thương nặng nhất đã tha thứ cho anh Vươn và không đòi bồi thường tại phiên tòa.
Trừ một vài phần tử xấu, thì phần lớn người dân bị giải tỏa lẫn người nhận lệnh phải đi giải tỏa không có gì phải thù hận lẫn nhau dù luôn xảy ra xô xát mỗi khi có cưỡng chế đất đai.
Nhưng sự việc kinh hoàng vừa nổ ra ở Thái Bình lại diễn biến theo một hướng khác.
Cũng liên quan đến việc ruộng đất của gia đình mình bị giải tỏa, người nông dân Đặng Ngọc Viết đã xông vào tận Ủy ban Nhân Dân TP dùng súng cố sát 5 cán bộ liên quan đến việc giải tỏa đất đai rồi tự sát.
Theo tường thuật ban đầu từ các báo, gia đình Viết chưa có đơn từ khiếu kiện gì về việc giải tỏa và đặc biệt, Viết không có hận thù cá nhân gì với những nạn nhân vừa bị bắn ở TT Phát triển Quỹ Đất.
Câu hỏi được đặt ra là Đặng Ngọc Viết đã căm thù ai và vì chuyện gì đến mức phải dùng súng trút căm hờn của mình qua từng phát bắn lần lượt vào đầu 5 cán bộ tại TT Phát triển Quỹ đất?
Anh em Đoàn Văn Vươn đã giành lại được mảnh đất xương máu của mình từ tay tập đoàn gian tham Lê Văn Hiền với cái giá phải trả cho hành động chống đối bất hợp pháp của mình bằng nhiều năm tù đày (Trong khi bọn chủ mưu gây ra vụ cướp đất lại bị xử lý rất nhẹ)
Đặng Ngọc Viết biết trước hành động của mình là  phạm vào tội ác nặng nề, cướp đi sinh mạng của người khác, nên đã tự trừng phạt mình bằng cái chết.
Đặng Ngọc Viết gây ra cái chết của nhiều người và cái chết của mình để đạt mục đích gì là câu hỏi đang đặt ra. Nhưng thế nào đi nữa thì những tiếng nổ ấy cũng là sự cảnh báo về những bất cập trong chính sách đất đai hiện hành.
Liên quan đến chính sách đất đai đã có vài người dân tự thiêu, hai người phụ nữ phải lột truồng, nhiều người dân bị tù tội và rất nhiều người dân khác mất phương tiện canh tác, trở thành đoàn dân oan ngày càng đông đúc, kéo lê thê lếch thếch tháng này qua năm nọ tại các cơ quan giải quyết khiếu kiện.
Tuy vậy chính sách về đất đai vẫn không có dấu hiệu được thay đổi cho hợp lẽ.