Thứ Năm, ngày 17 tháng 4 năm 2014

Quy mô bệnh sởi đã ở mức độ “dịch”?


Nguyễn Văn Tuấn
 Một trăm lẻ tám trẻ em tử vong là một thảm trạng, và có thể nói rằng quy mô bệnh sởi ở Việt Nam đang ở mức độ “dịch”.

Nói “dịch sởi” là có chứng cứ 

Theo thị sát thực tế của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam, chỉ riêng 3 bệnh viện lớn ở Hà Nội đã có đến 108 trẻ tử vong vì bệnh sởi hay biến chứng từ bệnh sởi, và con số này cao hơn 4 lần con số của Bộ Y tế. 

Dịch sởi ở Việt Nam không chỉ mới xảy ra trong tuần này, mà đã diễn tiến từ đầu năm nay trên nhiều tỉnh thành khắp nước. Chẳng hạn như ở TP Hồ Chí Minh, Bệnh viện Nhi Đồng I mỗi ngày tiếp nhận trung bình 30 ca bệnh sởi (trước đây là 20 ca/ ngày). Các bệnh viện khác trong thành phố cũng ghi nhận số ca bệnh gia tăng. Thật ra, bệnh sởi đã xuất hiện trên 59 tỉnh và thành phố[1]. 

Cần nói thêm rằng trước đó, năm 2008, số liệu của Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương ghi nhận trong 3 tháng (từ 12/2008 đến 3/2009) cả nước đã có 7.600 ca bệnh nghi sởi, và khoảng 57% trong số này có kết quả xét nghiệm dương tính sởi. Như vậy, bệnh sởi ở nước ta chưa được kiểm soát và khống chế có hiệu quả. 

Số ca bệnh sởi năm nay dường như có xu hướng tăng cao vào tháng 2 - 4. Xu hướng này rất phù hợp với một kết quả nghiên cứu trước đây (2), mà theo đó, số ca bệnh (ghi nhận từ 10/2008 đến 1/2010) cũng đạt đỉnh vào tháng 2 - 4. Với xu hướng này, chúng ta có thể tiên đoán rằng số ca bệnh sởi sẽ giảm từ tháng Năm. 

bệnh sởi
Số ca bệnh sởi ghi nhận từ 10/2008 đến 1/2010. Tổng số ca bệnh trong thời gian đó là 7.942, và tăng cao nhất vào tháng 2, kế tiếp là tháng 3 và tháng 4. Ở những tháng này, phần lớn ca bệnh là xuất phát từ các tỉnh phía Bắc (màu đỏ). Nguồn: tài liệu tham khảo (2).
Nhưng con số tử vong mới là đáng báo động. Theo Bộ Y tế, chỉ riêng tại Bệnh viện Nhi Trung ương đã có 25 trẻ tử vong do bệnh sởi, và 78 ca khác tử vong do bệnh sởi và những biến chứng. Nhưng qua thị sát thực tế, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam cho biết con số tử vong là 108 (chứ không phải 25). Tuy nhiên, dù số ca tử vong là 25 hay 108, thì tình trạng này vẫn phải xem là một dịch bệnh nguy hiểm. Ở Úc, chỉ cần một vài ca bệnh sởi cũng đủ khiến cả hệ thống Y tế báo động và lên phương án phòng chống. 

Nói “dịch sởi” là có chứng cứ. Cần nhắc rằng, trước đây bệnh SARS và cúm H1N1 cũng gây ra một số ca tử vong, nhưng vẫn chưa cao như bệnh sởi lần này. Tuy nhiên, lúc đó, cả SARS và H1N1 đều được xem là dịch, thậm chí “đại dịch”. 

Giới dịch tễ học chia dịch bệnh thành 6 giai đoạn, và giai đoạn 5 được định nghĩa là khi virus lan truyền từ người sang người, và lan truyền sang ít nhất là 2 quốc gia trong một vùng. Theo các chuyên gia Việt Nam, dịch sởi lần này xảy ra ở phía Nam Trung Quốc và xâm nhập vào Việt Nam. 

Chúng ta biết rằng bệnh sởi là bệnh lây nhiễm nhanh hơn và nguy hiểm hơn SARS và cúm gia cầm. Do đó, trên phương diện “kĩ thuật” quy mô bệnh sởi ở Việt Nam có thể xem là “dịch”.

Muốn phòng bệnh phải có thông tin

Nhưng dùng danh từ gì để gọi quy mô bệnh cũng chỉ là hình thức và mang tính kĩ thuật; điều quan trọng hơn là đối phó với bệnh về lâu dài. Nhiều nghiên cứu kinh điển về bệnh sởi cho thấy đại đa số ca bệnh sởi đều do thiếu tiêm chủng lúc mới sinh. Ở những quần thể không được tiêm chủng, hầu hết trẻ đều mắc bệnh sởi trong những năm đầu đời. 

Ở Việt Nam, theo thống kê của các giới chức Y tế, 80% bệnh nhân sởi chưa từng được tiêm phòng. Ngược lại, ở những nước tiên tiến, nơi mà trẻ mới sinh được tiêm chủng vaccine phòng chống sởi thì hầu như không có ca bệnh này. Do đó, tiêm vaccine là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất. Chương trình tiêm phòng sởi được đưa vào cộng đồng từ 1982, và cũng đạt được hiệu quả nhất định (xem biểu đồ dưới đây):

bệnh sởi
Biểu đồ thể hiện số ca bệnh sởi (thanh màu đỏ) ở Việt Nam từ năm 1974 đến 2009. Tiêm chủng vaccine phòng ngừa sởi (MCV) bắt đầu từ năm 1982 (đường màu xanh) và đến năm 2009 đạt gần 100%. Biểu đồ cho thấy khi tỉ lệ tiêm chủng tăng cao thì số ca bệnh sởi giảm đáng kể. Nguồn: tài liệu tham khảo (2).
Theo báo cáo, cho đến nay đã có 93 - 97% trẻ được tiêm phòng (2). Nếu tỉ lệ tiêm chủng này là đúng, thì sự bùng phát bệnh sởi trong năm nay là một sự ngạc nhiên. Có thể con số 93-97% không đúng, nhưng cũng có thể hệ thống y tế dự phòng chưa hữu hiệu, hoặc một số ca sởi là do thiếu vitamin A (một trong những yếu tố nguy cơ của sởi). 

Ai cũng biết phòng bệnh có hiệu quả hơn chữa bệnh. Phòng bệnh thì cần phải có thông tin về quy mô bệnh và biện pháp. Biết được quy mô, công chúng sẽ cảnh giác và thận trọng hơn. Biết được thông tin phòng bệnh, công chúng sẽ chủ động hơn từ cấp gia đình thay vì để các bệnh viện quá tải. 

Khoảng 10 năm trước đây khi SARS bắt đầu nhen nhúm trở thành dịch bệnh, cả hệ thống chính trị vào cuộc để phòng bệnh. Nhưng hiện nay, trong khi hơn 100 trẻ tử vong vì sởi mà người ta vẫn tranh luận (và bao biện) về việc có nên công bố dịch bệnh! Tại sao có sự khác biệt về phản ứng trước dịch bệnh như thế? 

Trong trường hợp bệnh SARS, phản ứng của Việt Nam có lẽ một phần do sự lưu ý và sức ép từ các cơ quan y tế quốc tế, nhưng dịch sởi lần này thì các tổ chức y tế quốc tế không có ý kiến (vì không liên quan đến họ) và Việt Nam đối phó có phần… khiêm tốn. 

Hai cách đối phó với dịch bệnh ở hai thời điểm làm cho công chúng nghĩ rằng mức độ tình cảm với người Việt tuỳ thuộc vào tỉ lệ bệnh lây lan sang người nước ngoài. Dĩ nhiên, không ai muốn để con số tử vong vì bệnh sởi trở thành “chất liệu” cho câu nói nổi tiếng (được cho là) của Stalin, rằng một cái chết là một thảm trạng, nhưng nhiều cái chết là một con số thống kê.

Ai đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam?


Michel Chossudovsky
Ngọc Thu dịch
Lời người dịch: 30-4: Ai đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam?

Bạn có biết: Việt Nam đã từng trả nợ chiến tranh cho Mỹ? Việt Nam đã trả các khoản vay của chính quyền Sài Gòn thời chiến tranh, để đổi lấy các khoản vay mới của Mỹ và phương Tây và đó cũng là điều kiện để Mỹ gỡ bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ ngoại giao với VN.


Đó là cái giá mà chính phủ CSVN, hay nói đúng hơn là người dân VN đã phải trả, do chính phủ CSVN không chịu bình thường hóa quan hệ với Mỹ ngay sau khi chiến tranh kết thúc, cứ khăng khăng đòi bồi thường chiến phí 3,25 tỉ Mỹ kim. Tiền bồi thường của Mỹ ở đâu không thấy, chỉ thấy sau đó phía VN phải bỏ tiền ra bồi thường chiến phí.

Thắng trong chiến tranh, nhưng chỉ 20 năm sau chính phủ CSVN đã phải đầu hàng Mỹ về kinh tế.
Đây là bài viết của GS Michel Chossudovsky về những thỏa thuận bí mật giữa chính phủ CSVN với các tổ chức tài chính quốc tế trước năm 1995.
Ngọc Thu

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiến tranh Việt Nam đã kết thúc bằng lực lượng cộng sản chiếm giữ Sài Gòn và sự đầu hàng của tướng Dương Văn Minh và nội các của ông ấy trong Dinh Tổng thống. Khi đội quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến vào Sài Gòn, các nhân viên Hoa Kỳ và lính thủy quân lục chiến Mỹ cuối cùng đã vội vã sơ tán từ nóc tòa nhà Đại Sứ quán Mỹ. Hai mươi năm sau, một câu hỏi cơ bản vẫn chưa có lời giải đáp: Ai đã thắng trong cuộc chiến tranh Việt Nam?

Việt Nam chưa bao giờ nhận được khoản tiền bồi thường nào cho chiến tranh từ Mỹ về các tổn thất nhân mạng rất lớn và sự tàn phá [của chiến tranh], nhưng một thỏa thuận đã đạt được ở Paris vào năm 1993, yêu cầu Hà Nội nhận các khoản nợ của chính quyền Sài Gòn, một chính quyền không còn tồn tại nữa của Tướng Thiệu. Bản thoả thuận này có nhiều chỗ tương đương với việc bắt buộc Việt Nam bồi thường cho Washington các phí tổn chiến tranh.

Ngoài ra, việc áp dụng sâu rộng cải cách kinh tế vĩ mô dưới sự giám sát của các định chế Bretton Woods cũng là một điều kiện cho việc dỡ bỏ lệnh cấm vận của Mỹ. Những cải cách thị trường tự do này hiện đã định đoạt học thuyết chính thức của Đảng Cộng sản. 

Qua việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Washington vào năm 1994, việc nhắc đến vai trò tàn bạo của Mỹ trong chiến tranh đang ngày càng được xem như không đúng lúc và không thích hợp. Không ngạc nhiên, Hà Nội đã quyết định dịu giọng trong lễ kỷ niệm Sài Gòn đầu hàng để không phải xúc phạm đến kẻ thù trong chiến tranh trước đây của họ. Lãnh đạo Đảng Cộng sản gần đây đã nhấn mạnh "vai trò lịch sử" của Hoa Kỳ trong việc "giải phóng" Việt Nam từ chế độ Vichy (Pháp) và sự chiếm đóng của Nhật Bản suốt Đệ Nhị Thế chiến.

Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, trong bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các đặc vụ Mỹ của Cục Tình báo Chiến lược (OSS: tiền thân của CIA ngày nay) đã có mặt bên cạnh Hồ Chí Minh. Trong khi Washington đã cung cấp vũ khí và hỗ trợ tài chính cho phong trào kháng chiến Việt Minh, chiến lược này phần lớn được thiết kế để làm suy yếu Nhật Bản trong giai đoạn cuối của Đệ Nhị Thế chiến, mà không có cam kết gửi lực lượng bộ binh Mỹ tới với số lượng lớn.

Ngược lại với bầu không khí dịu giọng và hạn chế trong kỷ niệm đánh dấu chiến tranh Việt Nam kết thúc, lễ kỷ niệm 50 năm ngày độc lập được cử hành long trọng, với một loạt các nghi lễ và các hoạt động chính thức bắt đầu từ tháng 9 và kéo dài đến Tết âm lịch.

Việt Nam bồi thường chiến tranh

Trước khi "bình thường hóa" quan hệ với Washington, Hà Nội đã bị buộc phải trả các khoản nợ xấu phát sinh của chế độ Sài Gòn do Mỹ hậu thuẫn. Tại hội nghị các nhà tài trợ tổ chức ở Paris hồi tháng 11 năm 1993, các khoản vay và số tiền viện trợ tổng cộng gần 2 tỷ Mỹ kim đã được cam kết để hỗ trợ cho cải cách thị trường tự do ở Việt Nam.

Tuy nhiên, ngay sau khi hội nghị, một cuộc họp bí mật đã được tổ chức dưới sự bảo trợ của Câu lạc bộ Paris (Paris Club). 

Tại cuộc họp này, có sự góp mặt của đại diện các chính phủ phương Tây. Về phía Việt Nam, TS Nguyễn Xuân Oánh, cố vấn kinh tế cho Thủ tướng, đã đóng vai trò quan trọng trong các cuộc đàm phán. 

Tiến sĩ Oánh, một cựu quan chức của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), đã giữ chức Bộ trưởng Bộ Tài chính và sau đó là Quyền Thủ tướng trong chính quyền quân sự của Tướng Dương Văn Minh, mà Mỹ đưa vào hồi năm 1963 sau vụ ám sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm và em trai. Tiến sĩ Oánh, trong khi giữ vai trò trung gian, chính thức thay mặt chính quyền cộng sản, dù sao cũng đã đáp ứng được nhu cầu của các chủ nợ phương Tây.

Các thỏa thuận đã được ký kết với IMF (đã được công bố) phần lớn chỉ là tượng trưng. Số lượng không đáng kể: Hà Nội buộc phải trả cho IMF 140 triệu đô (thuộc sở hữu của chính quyền Sài Gòn) như một điều kiện để nối lại các khoản vay mới. Nhật Bản và Pháp, những chủ nhân thuộc địa cũ của Việt Nam giai đoạn Vichy, hình thành cái gọi là "Những người bạn của Việt Nam" để cho Hà Nội vay số tiền cần thiết để hoàn trả cho IMF.

Tuy nhiên, sự sắp xếp gia hạn các khoản nợ song phương (của chế độ Sài Gòn) không bao giờ được tiết lộ. Nhưng cuối cùng thì thỏa thuận bí mật này (đạt được dưới sự bảo trợ của Câu lạc bộ Paris) là công cụ quyết định để Washington dỡ bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa các quan hệ ngoại giao. Việc sắp xếp này cũng là yếu tố quyết định trong việc tháo khoán các khoản vay đã được cam kết tại hội nghị các nhà tài trợ năm 1993, do đó Việt Nam bị đặt dưới sự ủy thác của các chủ nợ Nhật Bản và phương Tây. Như vậy, chỉ 20 năm sau chiến tranh, Việt Nam đã đầu hàng về mặt kinh tế.

Bằng cách công nhận hoàn toàn tính hợp pháp của các khoản nợ, Hà Nội đã đồng ý hoàn trả các khoản vay đã hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của Mỹ. Hơn nữa, chính phủ của ông Võ Văn Kiệt cũng đã chấp nhận thực hiện đầy đủ các điều kiện thông thường (giảm giá, tự do hóa thương mại, tư nhân hóa, v.v.) của một chương trình điều chỉnh cơ cấu do IMF tài trợ. Những cải cách kinh tế này ra mắt vào giữa thập niên 1980 với các định chế Bretton Woods, trong hậu quả chiến tranh tàn khốc, đã khởi đầu một giai đoạn mới về sự tàn phá kinh tế và xã hội: lạm phát đã dẫn đến phá giá liên tục, bắt đầu từ năm 1973 dưới chế độ Sài Gòn, năm theo sau sự rút lui của quân đội Hoa Kỳ. Ngày nay, một lần nữa Việt Nam tràn ngập các ghi chú bằng đô la Mỹ, đã thay thế phần lớn tiền đồng Việt Nam. Với giá cả tăng cao, thu nhập thực tế đã giảm xuống tới mức thấp nhất.

Lần lượt những cải cách đã ồ ạt giảm năng lực sản xuất. Hơn 5.000 trong số 12.300 doanh nghiệp nhà nước đã bị đóng cửa hoặc được chỉ đạo phá sản. Các hợp tác xã tín dụng đã bị loại bỏ, tất cả các khoản tín dụng dài hạn và trung hạn cho ngành công nghiệp và nông nghiệp đã bị đóng băng. Chỉ tín dụng ngắn hạn là có sẵn, với lãi suất 35%/ năm (năm 1994). Ngoài ra, thỏa thuận IMF đã cấm nhà nước cung cấp hỗ trợ ngân sách, hoặc cho nền kinh tế nhà nước hoặc cho một khu vực tư nhân mới chớm nở.

Chương trình nghị sự về những cải cách đã bị che giấu này bao gồm nền tảng công nghiệp mất ổn định ở Việt Nam. Các ngành sản xuất công nghiệp nặng, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và khai thác khoáng sản, xi măng, sắt thép sẽ được tổ chức lại và được thực hiện dựa trên số vốn nước ngoài. Tài sản nhà nước có giá trị nhất sẽ được chuyển giao để củng cố và duy trì cơ sở công nghiệp, hoặc để phát triển một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thuộc sở hữu và kiểm soát bởi dân chúng.

Trong quá trình tái cơ cấu kinh tế, hơn một triệu công nhân và hơn 20.000 công nhân viên chức (trong đó đa số là nhân viên y tế và giáo viên) đã bị sa thải. Lần lượt, nạn đói địa phương đã nổ ra, ảnh hưởng đến ít nhất một phần tư dân số cả nước. Những sự đói khát này không giới hạn ở các khu vực thiếu lương thực. Ở Đồng bằng Sông Cửu Long, vựa lúa của Việt Nam, 25% số dân trưởng thành tiêu thụ chưa tới 1.800 calories mỗi ngày. Ở các thành phố, sự mất giá của tiền đồng cùng với việc loại bỏ trợ cấp và kiểm soát giá cả đã dẫn đến giá gạo và các nhu yếu phẩm khác tăng vọt.

Những cải cách này đã dẫn đến việc cắt giảm mạnh mẽ các chương trình xã hội. Với việc áp dụng học phí, ba phần tư trong số một triệu trẻ em bỏ học khỏi hệ thống trường công trong vài năm (từ 1987-1990). Các trạm y tế và bệnh viện sụp đổ, sự hồi sinh của một số bệnh truyền nhiễm như sốt rét, lao phổi và tiêu chảy được Bộ Y tế và các nhà tài trợ nhận ra. Một nghiên cứu của Tổ chức Y tế Thế giới xác nhận rằng, số người tử vong do bệnh sốt rét tăng gấp ba lần trong bốn năm đầu của thời kỳ cải cách, cùng với sự suy sụp của việc chăm sóc sức khỏe và giá cả các loại thuốc chống sốt rét tăng vọt. Chính phủ (dưới sự hướng dẫn của các nhà tài trợ quốc tế) cũng đã ngưng hỗ trợ ngân sách để cung cấp các thiết bị y tế và bảo trì, dẫn đến tình trạng tê liệt toàn bộ hệ thống y tế công cộng. Tiền lương thật sự của nhân viên y tế và điều kiện làm việc đã giảm đáng kể: tiền lương hàng tháng của các bác sĩ y tế tại một bệnh viện huyện thấp tới mức $15 một tháng.

Mặc dù Mỹ đã bị đánh bại trên chiến trường, nhưng hai thập niên sau đó Việt Nam dường như đã đầu hàng kẻ thù chiến tranh trước đây của mình về mặt kinh tế.

Không có những quả bom viên bằng thép hay màu cam, không có bom napalm, không có hóa chất độc hại: một giai đoạn mới của sự hủy diệt kinh tế và xã hội đã diễn ra. Những thành tựu của cuộc đấu tranh trong quá khứ và nguyện vọng của một quốc gia toàn vẹn chưa hoàn thành và đã bị xóa gần như với một nét bút (chữ ký).

Điều kiện nợ và điều chỉnh cơ cấu dưới sự ủy thác của các chủ nợ quốc tế tạo ra do hậu quả của chiến tranh Việt Nam, một công cụ thuộc địa bất bạo động chính thức và hiệu quả như nhau và sự bần cùng hóa ảnh hưởng đến sinh kế của hàng triệu người.
------
Tác giả: Michel Chossudovsky là giáo sư kinh tế tại Đại học Ottawa và là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu hóa.
Bài viết trên đã được viết năm 1995, đầu tiên được đăng tải vào ngày 30 tháng 4 năm 1995, trong bối cảnh kỷ niệm 20 năm “Giải phóng Sài Gòn”.
Một bài phân tích sâu hơn dựa trên những nghiên cứu thực tế được tiến hành ở Việt Nam, tập trung vào những cải cách tân tự do của Hà Nội, sau đó đã được đăng trong cuốn sách của Michel Chossudovsky, The Globalization of Poverty, ấn bản đầu tiên năm 1997, ấn bản thứ hai vào năm 2003.

Thứ Tư, ngày 26 tháng 3 năm 2014

THỦ PHẠM GIẾT SỐNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

(Chép-dán từ Chú Tễu)

Nguyễn Đăng Quang

Đại tá Nguyễn Đăng Quang (bên phải) và CCB Nguyễn Anh Dũng.

.

THỦ PHẠM GIẾT SỐNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM !

Nguyễn Đăng Quang

Ghi chú (hồi 22h50′, ngày 7/3/2014): Sau khi bài được đăng lên, lúc 01h ngày 7/3/2014, tác giả có chỉnh sửa và bổ sung một số đoạn, gửi tới Diễn đàn và đề nghị cập nhật thay thế bản cũ.
Chúng tôi được biết tác giả, Đại tá Nguyễn Đăng Quang, hiện đang điều trị bệnh và trong mấy ngày tới phải nhập viện để phẫu thuật. Rất cám ơn và cảm kích sự đóng góp của tác giả.
Cách đây hơn 23 năm ( tháng 1-1991), trên đường công tác, ghé vào nghỉ tại Nhà khách của Sứ quán ta, tôi được các đồng chí ở Sứ quán đưa cho đọc phụ bản của nguyệt san ĐOÀN KẾT- báo ra hàng tháng của Hội người Việt Nam(Việt kiều) tại Cộng hòa Pháp- số 420 ra tháng 1-1991. Tôi rất chú ý đến bài viết của tác giả Thái Như có tựa đề bằng phiên âm Hán-Việt, nguyên văn như sau: “Sư tử thân trung trùng thực sư tử nhục”. Tác giả Thái Như giải thích câu đó có nghĩa là Chỉ có loài sâu trong thân con sư tử mới ăn được thịt của con sư tử!”.  Sau đó tác giả dẫn giải sư tử là chúa tể rừng xanh ,một tiếng gầm của nó làm muôn thú run sợ, nói chi đến việc dám lại gần nó, dám mó đến người nó hay dám…ăn thịt nó ! Đó là những con sư tử khỏe mạnh và như thế nó là vô địch!  Ngược lại nếu có loài sâu bọ (trùng) ẩn nấp trong người nó, đục khoét dần xương tủy nó thì sao? Tác giả liền đi đến kết luận: “Đương nhiên, điều không thể tránh khỏi là con sư tử đó sẽ ngã quỵ một khi những con sâu trong người nó ngày một nhiều và lớn mạnh!”

Rồi tác giả liên hệ chuyến về thăm quê nhà, đến bất cứ đâu, vào bất kể một hội trường nào, ông đều thấy có những khẩu hiệu: “Chủ nghĩa Marx-Lenine vô địch muôn năm!”, “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm!” v.v… làm ông liên tưởng đến sự vô địch của con sư tử! Vâng, nó vô địch thật nếu nó không bị sâu bọ đục khoét !

Sau đó tác giả đưa ra nhận xét: “Tình hình Việt Nam ta khó có thể xảy ra những biến cố như ở Liên Sô cũ hoặc các nước XHCN Đông Âu, song có những vấn đề thì nguy hiểm không kém! Đó là những con sâu vô cùng khủng khiếp đang đục khoét con sư tử! “. Để chứng minh, tác giả liệt kê:

- Chúng ta đã thấy một con sâu thật lớn: Đại tá Giám đốc Công an Đồng Nai bị tử hình vì bán bãi, tham ô cả ngàn lạng vàng.

- Chúng ta thấy cả một “nhóm sâu có tổ chức”: Cả một băng cán bộ đảng viên cao cấp toa rập, ăn cắp một cách quy mô vật tư cảng Sài gòn.

- Chúng ta đã thấy những con sâu thật khủng khiếp: Đốt kho cảng Hải Phòng để phi tang sự đục khoét của chúng.

- Và nay những con sâu “không có tên gì để gọi” đã ngang nhiên đốt cả Imexco Sài gòn !

Rồi còn biết bao con sâu bự khác như kiểu Hà Trọng Hòa đang lúc nhúc?

Phần cuối bài viết, tác giả thốt lên: “Sư tử thân trung trùng thực sư tử nhục ” là như thế và những con sâu ấy hiện đã quá to, quá mạnh ! Kết thúc bài viết, tác giả gióng lên câu hỏi cảnh báo: Liệu có thuốc chữa không và có chịu chữa hay không? Hay là con sư tử luôn luôn ngạo nghễ và gào to “Ta là vô địch!”, “Ta là bất tử!”, “Ta là đỉnh cao trí tuệ!”đây  trong lúc sâu nhặng đã tràn đầy cơ thể nó??.

Bài viết trên của nhà báo Thái Như thật sâu sắc và chí lý ! Và cho đến nay, sau hơn 23 năm, nó vẫn còn nguyên tính thời sự nóng hổi! Thiện ý của bài viết thì rất rõ và đầy tính xây dựng: Tác giả Thái Như muốn gửi đến Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta một thông điệp rất rõ ràng cùng một mong ước rất thiết tha của một người con đất Việt sống xa xứ là “Đảng hãy tự chỉnh đốn mình, làm trong sạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo và đảng viên của mình, loại bỏ những ung nhọt trong cơ thể Đảng để đồng hành cùng dân tộc đưa đất nước tiến lên!”

Vâng, kể từ khi nhà báo Thái Như gửi đến Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta thông điệp thiện chí này đến nay đã hơn 23 năm, và trong thời gian đó Đảng Cộng sản Việt Nam đã trải qua 5 kỳ Đại hội Đảng toàn quốc. Tại mỗi kỳ Đại hội, Đảng đều nêu lên từ 3 đến 4 nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng, trong đó lần nào cũng nêu nguy cơ tham nhũng, và đều hạ quyết tâm diệt trừ tận gốc tệ nạn này! Song quái lạ, nguy cơ này không những không bị  trừ diệt mà ngược lại, cứ qua mỗi kỳ Đại hội, nó càng ngày càng lớn, càng mạnh  lên, cả về quy mô cũng như về số lượng ! Và nguy hiểm hơn, nó không chỉ xảy ra trong lĩnh vực vật chất nữa mà nó lan sang cả nhiều lĩnh vực khác, như đạo đức, lối sống, tư tưởng, quyền lực, chính sách,v.v…! Bây giờ không chỉ là những con sâu đơn lẻ hoặc một nhóm vài ba con sâu như thời kỳ cuối những năm 1980′s hay đầu 1990′s mà nay  nó đã phát triển và lớn mạnh gấp nhiều lần hơn,trở thành những đàn sâu,bầy sâu, thậm chí cả “tập đoàn” sâu rồi !

Có thể khẳng định gần như 100% bọn sâu mọt tham nhũng đều là những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền!  Người dân thường không thể tham nhũng và nếu có ai đó muốn làm điều đó cũng đâu có dễ? Và tuyệt đại đa số những vụ tham nhũng bị lôi ra ánh sáng là do người dân và báo chí  phát hiện, phanh phui và tố cáo! Còn những vụ do các cơ quan chức năng như kiểm tra (của Đảng), thanh tra(Chính quyền) và điều tra(Công an) khui ra thì rất ít, có thể đếm trên đầu ngón tay! Nhiều người khẳng định rằng những con sâu bị lộ so với những con sâu chưa bị lộ cũng giống như mẩu băng nổi của tảng băng chìm ! (Có lẽ,vì thế mà có câu nói: “Kính thưa đồng chí đã bị lộ! Kính thưa các đồng chí chưa bị lộ!”.)

Khó có thể thống kê đầy đủ những con sâu to nhỏ đã được “bạch hóa” từ trước cho đến nay. Người viết bài này chỉ xin điểm qua một số con sâu”tiêu biểu” đã lộ diện trong vòng hơn 10 năm vừa rồi, qua một số vụ án sau đây:

- Vụ Trương Văn Cam (Năm Cam) – Năm Cam là một tên mafia cộm cán,đứng đầu một băng đảng xã hội đen khét tiếng ở đất Sài thành, tung hoành trong nhiều năm dài,gây bao kinh hoàng cho người dân và chính quyền TP HCM, bị bắt và kết án tử hình tháng 9-2003. Năm Cam có một câu nói nổi tiếng mà hắn coi là kim chỉ nam hành động mỗi khi bọn chúng giao dịch với quan chức các cơ quan công quyền, là “Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất, rất nhiều tiền.” Trong vụ án này hàng loạt cán bộ, đảng viên cao cấp bị bắt giam và lĩnh án ,trong đó có Trần Mai Hạnh,nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài phát thanh TNVN, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, bị 9 năm tù giam;  Phạm Sỹ Chiến,nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao bị 6 năm tù giam;  Bùi Quốc Huy, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Trung tướng,Thứ trưởng Bộ Công an bị 4 năm tù giam về các tội nhận hối lộ, bao che,bảo kê… cho Năm Cam và đồng bọn.

-Vụ Lương Quốc Dũng: Tại phiên tòa ngày 29-10-2004 Dũng bị kết án 8 năm tù về “tội hiếp dâm trẻ em”. Khi phạm tội Lương Quốc Dũng đang là Phó Chủ nhiệm Ủy ban TD-TT Trung ương.(hàm Thứ trưởng). Dũng có nhờ một phụ nữ môi giới, tìm một bé gái 13 tuổi đưa đến khách sạn cho y quan hệ tình dục để “phá trinh giải đen”. Tuy sau đó Dũng đã tự nguyện bỏ ra 68.000 đô la Mỹ để gia đình người bị hại xin bãi nại, nhưng Tòa không chấp nhận cho bãi nại.

- Vụ Lã Thị Kim Oanh:  Tại phiên phúc thẩm ngày 5-4-2004 tại Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội, Lã Thị Kim Oanh ,nguyên Giám đốc Công ty Tiếp thị và Thương mại của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bị tuyên án tử hình (sau được Chủ tịch nước ân giảm xuống chung thân) vì đã cùng đồng bọn tham ô và làm thất thoát gần 150 tỷ đồng của nhà nước. Trong vụ án này còn có 2 Vụ trưởng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bị tuyên án 3 và 4 năm tù giam, cùng 2 vị Thứ trưởng của Bộ này(trong đó có 1 vị là Thứ trưởng thường trực) bị tuyên phạt 2 và 4 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

- Vụ PMU 18: Đầu tháng 1-2006, Bùi Tiến Dũng,Tổng Giám đốc Ban Quản lý các Dự án 18 (PMU18) bị bắt và bị cáo buộc đã đem hàng chục tỷ đồng mà y tham ô từ công quỹ để đi bao gái,hối lộ và đánh bạc.Riêng số tiền mà Dũng cá độ bóng đá lên tới 1,8 triệu Đô la Mỹ. Liên quan đến vụ án này,Thứ trưởng thường trực Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Việt Tiến bị bắt giam và Bộ trưởng Đào Đình Bình buộc phải từ chức. Ngày 21-8-2007, Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên phạt Bùi Tiến Dũng 13 năm tù giam. Bảy cán bộ liên quan khác bị kết án từ 3 đến 9 năm tù giam. Vụ này không chỉ gây xôn xao dư luận tại Việt Nam mà khiến cho các quốc gia và các Tổ chức quốc tế cung cấp viện trợ chính thức(ODA) cho Việt Nam nghi ngại.

-Vụ Mai Văn Dâu:  Ngày 18-11-2004,Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) Mai Văn Dâu bị bắt giam .Trước đó con trai ông là Mai Thanh Hải, chuyên viên Vụ Xuất Nhập khẩu và 2 cán bộ cấp Vụ khác của Bộ Thương mại… bị bắt. Sau đó, ông Mai Văn Dâu và đồng bọn bị truy tố về các tội nhận hối lộ, đưa hối lộ ,môi giới hối lộ ;lợi dung chức vụ,quyền hạn trong khi thi hành công vụ;lừa đảo chiếm đoạt tài sản;làm giả tài liệu của cơ quan,tổ chức. Ngày 20-6-2007,Tòa án Nhân dân Tối cao tại TP Hồ Chí Minh tuyên phạt Mai Văn Dâu 12 năm tù giam, Mai Thanh Hải 5 năm tù giam,Lê Văn Thắng (nguyên Vụ phó Vụ Xuất Nhập khẩu) 17 năm tù giam. Các bị cáo còn lại bị tuyên từ 3 cho đến 12 năm tù giam.

-Vụ PCI – Huỳnh Ngọc Sỹ:   Ngày 12-11-2008, trước vành móng ngựa ở Tòa án Tokyo, 4 quan chức Nhật Bản của Công ty Tư vấn Quốc tế Thái Bình Dương (PCI) thú nhận là đã hối lộ cho các quan chức VN tổng cộng 2,43 triệu Đôla Mỹ để được thắng gói thầu “Dự án phát triển cơ sở hạ tầng TP HCM” có sử dụng vốn ODA của Chính phủ Nhật.  Sau đúng 1 tuần, ngày 19-11-2008, UBND TP HCM ra quyết định tạm đình chỉ công tác đối vớí  Huỳnh Ngọc Sỹ, Phó Giám đốc Sở GT- VT kiêm Giám đốc BQL Dự án đại lộ Đông-Tây  TP. HCM, nhưng mãi gần 2 năm sau, ngày 18-10-2010, Tòa án Nhân dân TP HCM mới tuyên phạt Huỳnh Ngọc Sỹ  án tù chung thân (sau giảm xuống 20 năm tù giam) về tội danh ”nhận hối lộ”. Vụ này đã làm Chính phủ Nhật nghi ngại và quyết định tạm dừng các khoản viện trợ ODA trong năm 2008 và hoãn các khoản viện trợ mới (khoảng 700 triệu Đôla Mỹ). Sự cố này đã gây ảnh hưởng nặng nề tới nhiều dự án thực hiện bằng vốn viện trợ ODA của Chính phủ Nhật dành cho VN.

- Vụ Hiệu trưởng mua dâm nữ sinh ở Hà Giang: Ngày 28-6-2011 trong phiên phúc thẩm xét xử vụ án “Hiệu trưởng mua dâm”, Tòa án Nhân dân tỉnh Hà Giang đã y án đối với bị cáo Sầm Đức Xương 9 năm tù vì tội mua dâm trẻ vị  thành niên. Theo đó khi đang là Hiệu trưởng 1 trường THPT ở Hà Giang, Sầm Đức Xương đã có tới 15 lần mua dâm các nữ sinh ở Vị Xuyên, trong đó có 6 nữ sinh chưa thành niên. Cũng theo cáo trạng của cơ quan tố tụng, vị Hiệu trưởng này đã nhiều lần ép các nữ sinh phải bán dâm để được nâng điểm học tập! Bản kết luận điều tra của CA tỉnh Hà Giang cho thấy có tới 16 người khác liên quan đến mua dâm các nữ sinh trong đó có ông Nguyễn Trường Tô, Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tich UBND tỉnh Hà Giang. Sau vụ bại lộ này, tuy tránh được việc bị truy tố ra tòa nhưng ông Tô vẫn bị khai trừ Đảng và bị cách chức Chủ  tịch UBND tỉnh, buộc về hưu trước tuổi.

-Vụ Tiên Lãng và Văn Giang: Vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng ( Hải Phòng) ngày 5-1-2012, và sau đó ở Văn Giang ( Hưng Yên )ngày 22-4-2012  đã gây chấn động dư luận cả nước và để lại những hậu quả khôn lường cho người nông dân nói riêng và cả xã hội nói chung. Rồi đây chắc chắn lịch sử sẽ phán xét lại 2 sự kiện này. Tuy xảy ra ở 2 địa phương khác nhau nhưng cả 2 vụ này đều bắt nguồn từ một nguyên nhân gốc, và đều có những nhóm lợi ích đứng phía sau.Người ta thấy có một sự giống nhau kỳ quặc ở cả 2 vụ này là khi bị người dân bắt quả tang chính quyền phạm luật, thay vì nhận nhận sai, các quan chức có trách nhiệm không chỉ chối bay, chối biến tội lỗi của mình mà ngược lại còn trâng tráo vu khống và đổ vấy tội đó cho người dân!

Ở Tiên Lãng, lưc lượng cưỡng chế  gồm trên 100 công an và bộ đội đã nổ súng xối xả và quá mức cần thiết vào ngôi nhà 2 tầng của ông Đoàn Văn Vươn sau khi họ thấy từ trong ngôi nhà đó  có 3 người (2 nam giới và 1 phụ nữ) dùng súng hoa cải bắn vào họ. Để xóa chứng cứ về hành vi này, chính quyền địa phương đã thuê bọn đầu gấu mang xe ủi đến san bằng ngôi nhà 2 tầng của nhà ông Vươn. Vậy mà ông Đỗ Trung Thoại, UVTV Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng, trong buổi trả lời báo chí một tuần sau đó, ông không chỉ thản nhiên phủ nhận trách nhiệm của chính quyền trong việc phá nhà dân mà còn trắng trợn vu khống là “do người dân bất bình nên phá nhà ông Vươn”.  Còn ở Văn Giang (Hưng Yên), đề cập đến đoạn video clip do người dân quay được cảnh Lực lượng  cưỡng chế đánh hội đồng và làm trọng thương 2 phóng viên VOV được cử đến tác nghiệp (mà chính sau này Công an Hưng Yên đã phải thừa nhận, công khai xin lỗi và bồi thường thiệt hại đối với 2 phóng viên này) thì ông Nguyễn Khắc Hào, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Hưng Yên, ngày 2-5-2012, trong văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ về vụ cưỡng chế trên,thay vì nhận lỗi, ông trâng tráo bóp méo sự thật: “Trong vụ việc ở Văn Giang, có  sự móc nối chặt chẽ với những phần tử chống đối ở nước ngoài. Các thông tin thậm chí còn được tường thuật tại chỗ, từng giờ, để tuyên truyền,xuyên tạc,dàn dựng những video clip giả để bôi nhọ chính quyền…”

Hai năm qua, người dân Tiên Lãng và Văn Giang dài cổ trông chờ một lời xin lỗi từ 2 ông quan đầu tỉnh này, nhưng có lẽ họ còn phải đợi lâu hơn nữa hoặc là không bao giờ!

Giáo sư Ngô Bảo Châu trong bài “Về nỗi sợ hãi ” có viết “Có cố tình làm mất thể diện quốc gia, chắc cũng khó mà làm hơn mấy ông bà này”. Tôi xin phép thay 4 từ ”mấy ông bà này” bằng 8 từ “ hai ông Phó Chủ tịch Tỉnh,Thành này ” cho hợp với  người  thật việc thật của vụ Tiên Lãng (Hải Phòng) và Văn Giang (Hưng Yên).

- Vụ Hồ Xuân Mãn:  Ngày 21-8-2010, Hồ Xuân Mãn (lúc đó đang là đương kim Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên- Huế) do khai man ,mạo nhận, gian dối và “chạy” thành tích nên được phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân ”. Ngày 2-1-2014 vừa qua, Ban Bí thư Trung ương Đảng, sau hơn một năm thẩm tra, xem xét các tố cáo của người dân và của các CCB, đã ra quyết định đề nghị Nhà nước tước bỏ danh hiệu trên và thu hồi hiện vật, tiền thưởng đối với Hồ Xuân Mãn, nhưng lại không có bất cứ hình thức kỷ luật đảng nào vì đồng chí Mãn đang ốm đau,bệnh tật!. Trước đó, năm 2009, Hồ Xuân Mãn còn được tuyên dương là 1 trong 3 Bí thư Tỉnh ủy tiêu biểu của toàn quốc đã gương mẫu trong phong trào ”Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Ấy là chưa nói đến một “thành tích” nữa là trong 2 nhiệm kỳ tại vị ở chức “Vua đất cố đô”, ông ta còn được người dân quê hương phong tặng thêm một danh hiệu nữa là “vua dê gái”!  

(Không rõ trong hàng ngũ của Đảng ta hiện nay có bao nhiêu cán bộ lãnh đạo có chức vụ bằng hoặc cao hơn  Hồ Xuân Mãn mà ”thành tích” không thua kém gì ông này mà chưa bị lộ không? Hẳn là không ít ! Không rõ trong số các vị này- sau khi nghiêm túc nghiên cứu và quán triệt NQ4 của Trung ương Khóa XI- có vị nào dám dũng cảm và tự giác giơ cao tay thú nhận không? Tôi cá là không có vị nào đâu, dù chỉ là một!)

-Vụ Vinashins

-Vụ Vinalines

- Vụ quan đánh cờ bạc tỷ ở Sóc Trăng

-Vụ lương khùng 2,6 tỷ ở một xí nghiệp công ích ở TP. HCM

-Vụ Nhân bản xét nghiệm ở Bệnh viện Đa khoa Hoài Đức( Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội đang xét xử sơ thẩm)

-Vụ Nguyễn Đức Kiên (Bầu Kiên)-Trần Xuân Giá ( sẽ xét xử vào cuối tháng 3 này.)

-V.v… và v.v… ( người viết không dám thống kê thêm vì sợ mất thời gian của bạn đọc.)

Hơn một tuần qua,báo chí trong nước rộ lên thông tin về ngôi biệt thự xa hoa trị giá hơn trăm tỷ trên khuôn viên rộng 17.000 m2 tọa lạc ở thành phố Bến Tre của ông Trần Văn Truyền ,nguyên UVTW Đảng, nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ cùng với vụ việc ông ký đề bạt ồ ạt hơn 100 cán bộ cấp vụ, cục và tương đương trong thời gian 4 năm nắm quyền ở Phủ Khai phong .Trong đó chỉ tính riêng 5 tháng -từ tháng 3-2011 đến hết ngày 3-8-2011- ông đã bổ nhiệm gần 60 người. Riêng trong ngày 3-8-2011,ngày cuối cùng tại chức trước khi nghỉ hưu, ông Truyền tranh thủ ký bổ nhiệm 22 cán bộ cấp vụ,cục và tương đương .Có lẽ đây là một kỷ lục vô tiền khoáng hậu trong công tác đề bạt cán bộ của Đảng ta ở một cơ quan cấp Bộ.

Phải chăng nhằm học tập tấm gương của ông Trần Văn Truyền trong việc ”ký bổ nhiệm chạy” mà mới đây nhất,ông Nguyễn Thành Rum, Giám đốc Sở VH-TT-DL Thành phố HCM đã ký hàng loạt(19) Quyết định bổ nhiệm cán bộ trong vòng 2 tuần trước khi ông này nghỉ  hưu kể từ  ngày 1-3-2014 vừa qua !

***

Trước khi bị bắt và bị truy tố theo Điều 258 Bộ Luật Hình sự, nhà báo Trương Duy Nhất có một bài báo góp ý với Lãnh đạo Đảng về công tác “xây dựng,chỉnh đốn đảng“.Bài báo lấy đầu đề là “ Trị Đảng” mang tính phản biện cao và có nội dung phê bình sắc sảo và rất nóng hổi!  Ông đã nói “trúng phóc” nhiều căn bệnh của Đảng với tinh thần xây dựng chứ không phải là đả phá, kích bác ,chống đối, song chỉ có điều tác giả tỏ ra bi quan,không chút hy vọng gì vào Đảng nữa! Song bài này lại không thấy Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao liệt kê trong Cáo trạng ngày 17-12-2013 để truy tố nhà báo-blogger nổi tiếng này về tội “Lợi dung các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước; quyền,lợi ích hợp pháp của tổ chức,công dân”. ( Cũng như  đa số những người theo dõi và hiểu biết về vụ này, cá nhân tôi tin rằng blogger Trương Duy Nhất không vi phạm pháp luật và vì thế ông không có tội ! Việc kết án 2 năm tù giam đối với ông là sai trái và là một điều sỉ nhục!). Trở lại bài báo “Trị Đảng” kể trên, sau khi trích dẫn câu nói của Giang Trạch Dân khi còn đương chức là “muốn trị quốc phải trị đảng”, Trương Duy Nhất viết : “Hồi Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã nghe nói ”nhà dột từ nóc”. Đến giờ, hình như “cái nhà” ấy không những dột từ nóc mà “dột nhiều chỗ khác nữa”.”Dột nhiều chỗ khác” là cách nói của cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, chứ thực ra không phải dột mà nhiều chỗ đã thực sự…mục nát rồi !”        

Học giả LÊ QUÝ ĐÔN (1726-1784) – nhà thơ đồng thời là nhà bác học nổi tiếng của Việt Nam thời kỳ Hậu Lê, người sống cách chúng ta gần 3 thế kỷ - đã nêu lên 5 hiện tượng xã hội mà ông cho là nguyên nhân dẫn đến đất nước lụn bại và làm chế độ suy vong. Đó là:

- Trẻ không kính già
-Trò không trọng thầy
-Binh kiêu,tướng thoái 
-Tham nhũng tràn lan 
-Sỹ phu ngoảnh mặt

Đối chiếu vào tình hình xã hội và đất nước ta hiện nay,chúng ta có thể thấy tất cả 5 hiện tượng trên đều hiện diện ở khắp mọi nơi (có thể nói ở hầu hết các bộ,ngành trung ương cho đến tất cả 63 tỉnh,thành trên trên toàn quốc) tuy rằng ở mức độ mỗi nơi có khác nhau,song trong số 5 hiện tượng này thì hiện tượng tham nhũng ngày càng phổ biến,ngày càng cấp bách và trở thành tệ nạn nguy hiểm nhất!. Vâng, tham nhũng đã tràn lan, tham nhũng đã rất trầm trọng! Lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng đã ý thức được nguy cơ này, đã nêu quyết tâm và cũng đã đã đề ra nhiều biện pháp diệt bọn sâu tham nhũng ,song có lẽ lực bất tòng tâm nên chưa đi đến kết quả như lòng dân mong đợi!

Người viết bài này trong suốt 25 năm qua đã luôn mong muốn và hy vọng  Đảng Cộng sản Việt Nam ý thức được vấn đề và cũng thật tâm muốn diệt trừ tham nhũng! Song những thực tế đau lòng và kết quả tệ hại của cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong hơn 10 năm qua đã làm đương sự rất thất vọng và gần như đã cạn hết niềm tin! Phải chăng cái cơ chế đương đại của đất nước này nó sản sinh ra bọn tham nhũng và bọn tham nhũng lại ra sức bảo vệ cái cơ chế này?  Từ năm 1989 đến nay, Đảng đã qua 5 kỳ Đại hội Đảng toàn quốc (1991, 1996, 2001, 2006 và 2011) ,nhưng tệ nạn tham nhũng ngày một trầm trọng, cứ qua mỗi kỳ  Đại hội nó lại càng trầm trọng thêm và đặc biệt từ sau Đại hội IX (2001) đến nay căn bệnh này mỗi ngày mỗi nghiêm trọng và nó đã trở thành quốc nạn rồi!

Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã cảnh báo: “Tham nhũng đang đe dọa chế độ!”

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang bức súc: “Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm! Nghe mà thấy xấu hổ,không nhẽ cứ để hoài như vậy.Mai kia người ta nói một bầy sâu,tất cả là sâu hết thì đâu có được.Một con sâu đã nguy hiểm rồi,một bầy sâu là “chết” cái đất nước này!”

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thì thật thà: “Không tham nhũng lấy đâu tiền chạy chức”.

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan thổ lộ: “Bây giờ người ta ăn của dân không từ một cái gì.”

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng quyết liệt: “Đảng và Nhà nước không hề chùn tay mà đã kiên quyết xử lý tham nhũng…”

Còn Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thì than thở: “Cái gì cũng phải tiền,không tiền không trôi,như ngứa ghẻ phải gãi rất khó chụi”“Còn quyền lực là còn tham nhũng”

(Riêng ông Nông Đức Mạnh, người được tín nhiệm làm Tổng bí thư 2 khóa liền (từ 2001 đến 2011), tôi không thấy ông để lại dấu ấn sâu sắc nào về việc chống tham nhũng, nhưng ông để lại cho đời một dấu ấn khó quên là lúc đương chức đi đến tỉnh nào, địa phương nào ông cũng hô hào  ta nên trồng cây gì, nuôi con gì  để đưa đất nước tiến lên!).

Tôi cho những phát biểu trên của các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước là những câu nói thật lòng, song sẽ ngàn lần tốt hơn nếu họ kiên quyết thực thi các quyết sách đã đề ra và mọi vụ việc phải công khai,minh bạch! Những vụ việc nghiêm trọng không được “khoanh lại”, “làm chìm xuống” để dấu dân!

Tháng 1-2012, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành NQTW4 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.”  đã nhận định:” Một bộ phận không nhỏ cán bộ,đảng viên -trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo,quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp- suy thoái về chính trị,đạo đức,lối sống…”

Vâng, Đảng thì đã có Nghị quyết 4 -một nghị quyết rất cầu thị, kịp thời và có lẽ là  thật nhất từ trước đến nay-song vấn đề quan trọng là có thực thi nó hay không, biến nghị quyết thành hành động như thế nào và đưa nó vào cuộc sống ra sao? Người dân thì đang rất trông chờ và mạnh mẽ đòi Đảng phải diệt trừ bằng sạch ”một bộ phận không nhỏ” kia của Đảng và phải làm điều đó trong vòng 2 năm tới trước khi Đảng có thể tổ chức Đại hội lần thứ XII vào đầu năm 2016! Vâng,bây giờ ta phải cùng nhau ấn định thời hạn cụ thể và rõ ràng, chứ không để hết nhiệm kỳ này đến nhiệm kỳ khác,hết thập kỷ này đến thập kỷ sau, làm đến đâu hay đến đó ! Tắm thì phải tắm thường xuyên, tắm thì phải rửa mặt cho sạch, gội đầu thật kỹ và kỳ cọ toàn thân, chứ không thể tắm sơ xài từ vai trở xuống!

Trong vòng 25 năm qua, bọn sâu bọ tham nhũng ngày một đông, ngày mỗi mạnh và đã trở thành bầy đàn! Nó như căn bệnh ung thư đã di căn tới nhiều bộ phận của cơ thể con sư tử. Nếu Đảng không quyết tâm chữa trị, không dũng cảm cắt bỏ những bộ phận cơ thể đã thối muỗng thì quốc nạn tham nhũng này, đến một lúc nào đó sẽ có kết cục như nhà báo Thái Như đã cảnh báo 23 năm về trước:”Đương nhiên điều không tránh khỏi là con sư tử nó đó sẽ ngã quỵ một khi những con sâu trong cơ thể ngày một nhiều và lớn mạnh!”.  Vâng, nếu Đảng không quyết tâm diệt trừ tận gốc (giết sạch) bọn sâu bọ tham nhũng của Đảng thì chính bọn này, một ngày nào đó không xa – có thể là cuối năm nay,có thể là sang năm hoặc sang năm sau nữa(2016)- sẽ là thủ phạm “giết sống” Đảng Cộng sản Viêt Nam!

Tôi thấy tình thế đã rất cấp bách! Thời gian không còn nhiều. Rất mong Đảng hãy dũng cảm, thực tâm và kiên quyết cứu vãn tình thế trước khi nó trở nên quá muộn!

Mong lắm thay!

Hà Nội, ngày 7-3-2014. 
N.Đ.Q.