Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Vinh danh cái đét gì thế nài?

  
Sáng nay tôi mới đọc được tin, anh tài xế Hồ kim Hậu, lái xe chở bia, được vinh danh là công dân tiểu biểu của Đồng nai!!!
http://laodong.com.vn/xa-hoi/tai-xe-bi-hoi-bia-tro-thanh-cong-dan-tieu-bieu-tinh-dong-nai-173866.bld

Anh chị xem clip cái đã nhẻ, nó đây:

Tôi tưởng nghe nhầm, thật không tin ở mắt mình nữa, vì theo tôi, anh thoát đi tù đã là rất may mắn cho anh.
Đầu tiên, anh thanh minh lý do bia lật ở quãng cua là do tránh 1 xe du lịch đi ẩu, nhưng ở Việt nam, đầy rẫy các xe đi ẩu, và nếu là lái xe, anh phải tính toán được việc đó để bảo đảm tốc độ, thế nhưng, có 1 camera đã ghi lại được, hoàn toàn không có xe đi láo nào, không hề có ai tránh ai hết.
Thì anh quay sang nói xe mất phanh ( giây 1,30), và bất kì 1 lái xe chuyên nghiệp nào ở Việt nam cũng nhận ra xe anh hoàn toàn không mất phanh, anh vẫn đạp phanh và dừng lại ở xa như bình thường.
Anh cũng trả lời phỏng vấn, nói anh chạy tốc độ 40 km/h, nhưng với lực li tâm khá lớn văng tới 90% bia sang tới tận lề đường bên kia, tốc độ xe của anh lúc đó không thể dưới 70km/h.
Thành thực mà nói, anh đã lái xe phóng như 1 tay đua F1 thực thụ.
Tóm lại, anh cố gắng nói dối để bao che cho việc, anh chạy xe quá cẩu thả, rất có thể đống bia không được chằng buộc kỹ, nhưng đó hoàn toàn là trách nhiệm của anh, và khi đống bia bị văng ra đường, anh hoàn toàn phải chịu trách nhiệm.
Và đống bia đã văng vào chân và làm ngã 1 chị đi xe máy, tôi xem lại nhiều lần và vẫn sởn gai ốc vì sợ, nếu đống bia đó đổ ập vào đầu chị xấu số đó, gần chắc chị sẽ mất mạng mà không biết tại sao, may thay, đống bia đã ụp xuống cách chị chỉ vài mét, chị bị đống bia đẩy ngã sõng soài, nhưng chị dậy được, hoàn hồn, và cố dắt xe khỏi đống bia suýt thành đống mồ chôn chị.
Và anh lái xe Hậu đã suýt giết người vì sự cẩu thả, lại đang được vinh danh, thành công dân tiêu biểu của Đồng nai, thật là chuyện chỉ có ở Việt nam.

Lí do anh được vinh danh, là anh đã trả lại hết số tiền bà con quyên góp cho anh để bồi thường cho nhà máy bia, để anh khỏi phải còng lưng trả nợ, nhưng nhà máy bia đã rộng lượng không bắt anh bồi thường.
Số tiền bà con quyên góp cho anh, chỉ để chứng tỏ ràng, họ khinh bỉ những người hôi bia, và họ gom tiền cho anh chỉ để anh biết, đời này vẫn còn người tốt hơn những người hôi bia. Số tiền khá lớn, riêng chuyển khoản đã trên 200 triệu.
Thậm chí có người treo cả băng rôn với dòng chữ ““Là dân Biên Hòa, là người Việt Nam, tôi thấy xấu hổ thay cho những ai đã “cướp vài lon bia” ở đây trưa ngày 4/12”.

Thế nhưng ngay khi biết mình không phải bồi thường, anh Hậu không hề có ý định trả hết, anh tuyên bố giữ lại 40% để chi tiêu riêng, 60% anh sẽ làm từ thiện.

Tôi biết 1 chị trên facebook, chị đã nhanh nhảu ủng hộ anh 10 triệu, và khi biết anh không phải bồi thường, chị vội điện thoại và cho người đến xin lại …9 triệu, biếu anh 1 triệu, chị nói số tiền sẽ này dành cho người cần hơn, vì anh không phải đền nữa, nhưng anh trì hoãn trả, viện đủ lí do. Khiến chị rất tức giận, trách móc ầm ĩ trên facebook.

Và trong khi chị chất vấn vợ anh về số tiền, chị vợ đã thú thật, tài khoản đang bị công an phong tỏa.

Vậy là việc trả lại hết toàn bộ số tiền cũng chưa chắc phải hảo ý của anh, vì anh đã tuyên bố sẽ giữ lại 40% cho con gái và từ thiện (?) 60% còn lại.

Theo tôi việc trả hết tiền là do anh bị buộc phải làm vậy, hẳn phía công an đã nắm được yếu huyệt của anh sau khi đến hiện trường đo đạc vết phanh, vết bia trượt, qua đó biết được tốc độ xe và thêm cái cái clip quay lại cảnh đống bia bị văng ra do lực li tâm quá lớn, họ đã khẳng định được tốc độ xe anh vượt ngưỡng cho phép, và do anh suýt giết 1 chị xe máy, họ có căn cứ để truy tố anh, tất nhiên nếu anh không chịu trả tiền.

Vậy là, 1 công nhân tiêu biểu của Đồng nai đang được vinh danh, gần chắc chỉ là anh vi phạm luật may mắn, anh thoát tội chỉ nhờ có những người tham lam hôi bia của anh, anh thoát, do tội của anh bị tội của số đông phủ lên.
Và dư luận chĩa mũi dùi vào số đông hôi bia mà quên đi tội chạy ẩu của anh.
Những người vinh danh anh, hẳn sẽ phân vân khi xem lại clip, 1 chiếc xe tải lao như đang trong trường đua công thức 1, 1 bên thành tung ra và đống bia đổ ập xuống đường, suýt giết chết 1 chị đi xe máy…

Tôi không biết chị bị ngã do đống bia này ở đâu, chị có bị thương gì không, nhưng tôi có thể khẳng định, trong số đông những người vinh danh anh Hậu, không bao giờ có chị.

Được múa bởi Ngẩu Pín

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2014

Tư bản hàn lâm

 

Wolfgang Kemp
Phạm Thị Hoài dịch
 
 
Trong sự bế tắc của ngành giáo dục Việt Nam hiện tại, người Việt đương nhiên đặt kì vọng vào những mô hình giáo dục đào tạo ở các nước phát triển, đặc biệt ở Mỹ. Hơn 16.000 sinh viên Việt Nam đang du học tại Mỹ. Bài viết sau đây của một học giả Đức, đăng trên tờ Süddeutsche Zeitung, cung cấp một góc nhìn cảnh báo về nền đại học ở đất nước có nhiều trường đại học được coi là tốt nhất thế giới này. Độc giả quan tâm có thể tham khảo thêm bài viết của nhà báo Mỹ Thomas Frank đăng trên The Baffler số mới nhất về cùng chủ đề.
Người dịch
________
Đó là hệ thống đại học ở Mỹ (higher education). Trong khi tiểu bang cuối cùng ở Đức vừa bỏ hẳn chế độ thu học phí đại học[1] thì tiền học ở Mỹ lại tăng vô kể. Mức học phí ở Mỹ không căn cứ vào phí tổn và dịch vụ được cung ứng. Không, các trường đại học ngự trên đống tài sản cao nhất cũng đòi những mức học phí cao nhất, vì đó “là chiến lợi phẩm, là biểu tượng”, như ông cựu hiệu trưởng Đại học George Washington đã thẳng thừng tuyên bố vài năm trước. Học phí ở trường này thời ông đương chức là 50.000 dollar. Thêm vào đó là 10.000 dollar tiền ăn ở trong kí túc xá sinh viên. Tất nhiên một người trẻ tuổi còn có những nhu cầu khác. Bỏ rẻ vào đó 5000 dollar nữa, thế là thành 65.000 dollar một năm, theo tỉ giá hiện nay tức là khoảng 47.000 euro. Nhìn vào con số đó thì biểu dương tính phúc lợi xã hội của đại học ở Đức bao nhiêu cũng chưa đủ – dù là giữ hay bỏ chế độ học phí 500 euro một học kì.
Trong số mới nhất (số 23) của tạp chí The Baffler, Thomas Frank đã cất lên một khúc “chiến ca hàn lâm” (Academy Fight Song) thật sôi sục. Chiến ca (fight songs) là những ca khúc cổ xúy các đội thể thao của các trường đại học ở Mỹ. Khúc ca ra trận của Thomas Frank vừa phẫn nộ, vừa có cả tuyệt vọng và tự phê bình. Ông viết: “Chúng ta là thế hệ những kẻ trố mắt đứng nhìn một nhúm kí sinh trùng và tỉ phú phá nát nền đại học để vụ lợi”. Sự phê phán triệt để của ông tập trung vào những điểm sau: cuộc chạy đua của mức học phí, sự thống soái của bộ máy quản trị, những công cụ thống trị mới của chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism), hệ thống đại học trong vòng tay của “giới độc quyền, các tập đoàn và những đám mãnh thú thả giàn khác”. Những đám mãnh thú mà Frank đề cập liên quan đến vòng xoáy phi lí của giá bán các giáo trình bắt buộc; toàn bộ ngành luyện trắc nghiệm để chuẩn bị cho các thí sinh được nhận vào trường (test prep); hệ thống quản lí tuyển sinh (enrollment management), tức một hệ thống kinh doanh tư nhân phụ trách việc điều phối tuyển sinh. Thêm vào đó là hoạt động kinh doanh của các trường đại học trong các lĩnh vực bất động sản, thể thao và bằng sáng chế. Sản phẩm của cạnh tranh thả giàn là cái được mệnh danh “university inc.”, hay công ti cổ phần đại học. Trước hết, đó là cuộc cạnh tranh giữa các đại học có vốn tài trợ phải bảo tồn lợi nhuận và các trường đại học doanh lợi (for-profit). Mới đây Thượng viện Hoa Kì đã thực hiện một công trình nghiên cứu về ngành kinh doanh đang nở rộ này. Sau đây là một con số rút ra từ công trình dày 800 trang đó: Tại các trường đại học doanh lợi, trung bình chỉ 17,4 % doanh thu được dành cho giảng dạy, tất cả phần còn lại là lợi nhuận, quảng cáo và quản lí. Những trường này không hề có nghiên cứu. Hiệu trưởng các trường đại học truyền thống có nằm mơ cũng không thấy cái tỉ lệ ấy, nhưng họ đang hăng hái tiến theo hướng đó. Đến nay, 75 % số tiết học là do các giáo sư trợ giảng (adjunct professor), tương ứng với giảng viên hợp đồng ở Đức, đảm nhiệm. Ở Mỹ đã xuất hiện khái niệm “giáo sư giẻ rách”. Giải quyết xong vấn đề khó chịu là ai sẽ phải đứng lớp thì ban quản trị nhà trường sẽ rảnh tay lo việc chính: việc chiêu mộ các giáo sư ngôi sao. Từ lâu câu nói tếu sau đây đã được truyền tụng trong các trường đại học: Hỏi: Thượng đế và một giáo sư ngôi sao khác nhau ở điểm nào? Đáp: Thượng đế ở khắp nơi, tức ở đây cũng có. Giáo sư ngôi sao cũng ở khắp nơi, nhưng ở đây thì không bao giờ. Giờ đây cái nghề ngoại trú, hiện diện bao la này còn có một danh xưng riêng: trong hệ thống vươn ra toàn cầu của Đại học New York (NYU) nó được gọi là “giáo sư toàn cầu” (global professor). Slavoj Žižek chẳng hạn, bây giờ là “giáo sư tiếng Đức uy tín toàn cầu” (global distinguished professor of German) của NYU (mà chắc tự ông ta cũng thấy khoái) và cũng ở đó Ernst Fehr là “giáo sư kinh tế uy tín toàn cầu” (global distinguished professor of economics). Những ngôi sao đó cũng là chiến lợi phẩm như các mức học phí cực khủng. Giới lãnh đạo bộ máy quản lí rất yêu các ngôi sao, vì khi trả cho các ngôi sao một mức lương mà ta cứ tạm tính là 400.000 dollar (cộng các khoản phụ cấp, trong khi mức trung bình ở đại học Mỹ là 98.000 dollar) thì giới lãnh đạo khỏi phải lo mức lương khủng của chính họ quá lẻ loi. Hiện nay huấn luyện viên các đội thể thao ở đại học không còn dẫn đầu bảng lương nữa – trừ khu vực miền Trung Tây Hoa Kỳ, ở đó thì quả thật ngoài thể thao còn có gì đáng kể nữa? Lương cao nhất bây giờ thuộc về các hiệu trưởng, chủ nhiệm khoa, chánh văn phòng, họ sẵn sàng nhận “thù lao” ở mức một triệu dollar. Ngoài ra lại còn các khoản tiền thưởng, vì trong các doanh nghiệp kinh tế cũng có tiền thưởng kia mà – và trong chế độ tư bản hàn lâm thì không có gì đáng phấn đấu hơn cái gọi là hoạt động doanh nghiệp (entrepreneurial). Cái từ vựng khủng khiếp của những “tuyên ngôn về sứ mệnh kinh doanh” và “dự thảo chiến lược”: nào là “tác nhân thay đổi” (change agent), nào là “năng động chiến lược” (strategic dynamism), nào là tăng trưởng (growth)…, đều từ đó mà ra. Nghe khá quen tai – ở Đức bây giờ danh hiệu thần chú “Exzellenz” (Đại học Ưu tú) cũng ngày càng thông dụng.
Bộ máy hành chính quản trị đã củng cố địa vị thống soái của nó trong các đại học Mỹ từ rất nhiều năm nay. Số lượng nhân viên hành chính đã vượt xa số lượng giáo sư từ lâu. Công trình nghiên cứu mang tên The Fall of the Faculty của Benjamin Ginsberg (2011) đã chỉ ra quá trình từng bước tước đoạt quyền lãnh đạo và quản trị của các giáo sư ở đại học: Từ 1975 đến nay, số lượng nhân viên cao cấp trong bộ máy quản trị tăng đến 85 %, số lượng nhân viên cấp dưới tăng 240 %, trong khi các khoa giảng dạy chỉ tăng 50 %[2].
Mới đây, khi thỉnh giảng tại Đại học New York (học phí 60.000 dollar một năm), tôi chứng kiến một vụ xung đột quyền lợi kéo theo nhiều hậu quả. Châm ngòi là sự đối đầu kinh điển giữa một bên là quyền quyết định và mong muốn thay đổi của chủ sở hữu và một bên là thái độ khoanh vùng của người sử dụng. Tôi sống trong một tòa nhà đồ sộ về chiều ngang, một quần thể dài vô tận, với 13 tầng, một kiến trúc như của Le Corbusier, nhưng vẫn không đủ hiện đại, vì đằng sau dãy nhà này là một công viên với sân chơi cho trẻ em, bể bơi và cây xanh, rồi lại đến một dãy khác, và cả hai chụm lại thành một không gian văn hóa của một thế giới đô thị khép kín khá khác thường ở Manhattan. Quần thể đó được gọi là “Washington Square Village”, và có lẽ cũng nên nhắc đến là toàn bộ khu vực này từng thuộc về một quỹ phúc lợi mang một cái tên đẹp: Snug Harbor, Bến Nương thân. Ông John Sexton, hiệu trưởng NYU, vốn đã được thỏa lòng hăng say xây cất bằng việc thành lập hai chi nhánh của NYU ở Abu Dhabi và Thượng Hải [3] – tất nhiên là bằng tiền của bên xin nhận quyền kinh doanh đại học này – và bằng cách đó dựng nên cái Đại học Mạng Toàn cầu (Global Network University) đầu tiên, với những “giáo sư toàn cầu” nêu trên – nhưng xem ra vẫn chưa đủ: ông ta trình ra thêm một dự án xây dựng quy mô 3,5 tỉ dollar ở khu vực Bến Nương thân, số tiền mà ở nơi khác đủ để xây và trang bị toàn bộ một trường đại học mới. NYU vốn đã là chủ bất động sản lớn nhất ở phía Nam Manhattan. Bây giờ khoảng không gian đẹp đẽ giữa hai dãy nhà nói trên sẽ bị hai tòa nhà cao tầng cuốn vào nhau kì quặc đè lên, trung tâm thể thao sẽ bị giải tỏa mặt bằng và một loạt nhà cao tầng khác sẽ mọc lên. Bao nhiêu nền văn hóa đã tiêu vong, chỉ vì ham xây dựng quá mức. Trong trường hợp này thì chỉ có ông hiệu trưởng bị đi tiêu. Giảng viên và sinh viên đã quá chán tình trạng bị cai trị từ trên xuống ròng rã nhiều năm trời và liên tục phải đối mặt với những chiến lược tăng trưởng mới. Đa số các phân khoa đã biểu quyết bất tín nhiệm. Kết quả: nhiệm kì của ông hiệu trưởng sẽ kết thúc vào năm 2016. Từ nay đến lúc đó, ông ta hưởng một mức lương là 1,5 triệu dollar một năm, cộng thêm 2 triệu do thâm niên công tác. Sau đó, tiền lương hưu ít ỏi của ông ta sẽ là 800.000 dollar cộng thêm khoản tín dụng cho ngôi nhà nghỉ ở đảo Fire Island. Chuyện đó có giấu cũng không được nữa: Trường đã cấp 72 triệu dollar tín dụng để các chủ nhiệm khoa, cán bộ quản trị cấp cao và các giáo sư ngôi sao mua nhà, nhà trong thành phố và cả nhà nghỉ, thậm chí là cả một trang trại. Hội đồng Quản trị không hề thấy thông lệ này có gì đáng trách. Đúng thế: đó là tiêu chuẩn sống đương nhiên của giới này. Vì thế, trước vụ phản kháng của giảng viên và sinh viên năm 2013, cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi Ban Quản trị tỏ ra mềm nhũn nhưng không hủy bỏ thông lệ cấp tín dụng xây dựng nói trên. Một hệ quả khác: Một thỏa thuận tạm hoãn xây dựng 9 năm với khu Snug Harbour. Ở phía sau, các tòa nhà cao tầng sẽ tới tấp mọc lên.
Ở Đức, tuy nhiều thứ còn rất chừng mực nhưng sự phát triển đáng kinh ngạc ở Mỹ nên được coi là cảnh báo nghiêm trọng. Trong thời gian gần đây, các trường đại học lớn ở Đức đã thuê hơn 1000 giảng viên hợp đồng một học kì, với mức thù lao tồi tệ. Đồng thời, chế độ minh tinh cũng bắt đầu phát triển, các trường đại học tư đã và đang được thành lập, ngôn ngữ quản trị hoành hành, bộ máy hành chính càng ngày càng phình to – ở Đại học LMU tại München cán cân đã ngang bằng: 700 giáo sư và nhân viên hành chính cũng chừng ấy. Ngày nay, tất cả những gì được mệnh danh đại học: cử nhân (bachelor), thạc sĩ (master), tín chỉ (credit points), công nhận chứng chỉ, đánh giá, cam kết mục tiêu.., được thử nghiệm đầu tiên ở Anh hai mươi năm trước. Năm 2010, người Anh lại tiến thêm một bước lớn về phía chủ nghĩa tư bản hàn lâm: Họ điều chỉnh ngân sách của các trường đại học bằng nguồn thu học phí. Nhà nước chỉ còn tài trợ một số trường hợp cá biệt và những bộ môn “định hướng tương lai”. Báo cáo về kết quả bước đầu đã có. Mới đây trong tạp chí London Review of Books, ông Stefan Collini, giáo sư Anh ngữ và Lịch sử Tư tưởng tại Cambridge, bản thân là một ngôi sao, đã có bài về sự biến chất của các trường đại học từ những thiết chế giáo dục công ích thành những doanh nghiệp kinh tế toàn cầu. Nhan đề cho bài viết về kết quả thê thảm này là: “Sold out”. Đã bán sạch.
___________
GS Wolfgang Kemp là nhà nghiên cứu Lịch sử Nghệ thuật, từng thỉnh giảng tại nhiều trường đại học Hoa Kì. Hiện ông là giáo sư tại Đại học Leuphana, Lüneburg.
Nguồn: “Akademischer Kapitalismus”, Süddeutsche Zeitung 4/1/2014 (bản in, không có bản online)
Bản tiếng Việt © 2014 pro&contra

[1] Trước 1970, học phí đại học ở CHLB Đức (Tây Đức cũ) đồng đều là 150 DM, sau đó bỏ hẳn. Năm 2005, 7 tiểu bang thuộc Tây Đức cũ khôi phục chế độ học phí 500 Euro / học kì. Năm học 2012/2013, chỉ còn 2 tiểu bang và năm học 2013/14 chỉ còn một tiểu bang giữ chế độ đó. Năm học 2014/2015, tiểu bang cuối cùng sẽ bỏ chế độ học phí đại học. (Các chú thích trong bài đều của người dịch.)
[2] So sánh với Đức: trong vòng 10 năm gần đây (2002-2012), số người làm việc tại các đại học ở Đức tăng 28%, hiện tổng cộng là 639.700 người, trong đó nhân viên hành chính, dịch vụ chỉ tăng 6%, còn nhân viên khoa học, nghệ thuật tăng gấp đôi.
[3] Một bài viết trên New York Times (“Liberal Education in Authoritarian Places“) được Vietnamnet dịch đăng dưới nhan đề “Trường Mỹ xuất khẩu danh tiếng, liệu còn tự do học thuật?“. Bài viết rất khơi mở này dường như quá xa xỉ với công chúng Việt Nam. Nếu đại học NYU cũng thiết lập một chi nhánh tại Việt Nam – như ở Abu Dhabi và Thượng Hải – thì người Việt chắc chắn không đặt câu hỏi về việc cái thường được ca ngợi là tự do học thuật của các đại học Mỹ có thể bị nướng vào công cuộc kinh doanh toàn cầu của phương Tây, nếu cần thì với cả các quốc gia chuyên chế. Tư bản không có hệ tư tưởng

Hồ Đức Thanh

 


Hôm này là sinh nhật của Hồ Đức Thanh, một bạn trẻ đã mất cách đây chỉ có hai ba tuần, ở độ tuổi 31. Là một bạn trẻ đã sống theo lương tâm của mình, là một người hết sức khiêm tốn, và là một người mới quan tâm đến xã hội dân sự với những ý định tốt nhất, Thanh đã ra sức một cách rất cảm dũng chỉ vì tương lai của Việt Nam.
Tôi đã không biết nhiều về Thanh. Chúng tôi đã chỉ gặp nhau một lần khoảng 30 phút trong một thời gian mà tôi tìm hiểu về sự phát triển của xã hội dân sự ở Việt Nam. Trong những tuần tiếp theo chúng tôi đã trao đổi thỉnh thoảng (trên dưới mười lần) qua Facebook.
Vào một ngày giữa tháng tám, Thanh cùng một nhóm người trể đã bị bắt ngay trong lớp tiếng Anh của họ. Sau đó, Thanh cùng một số người bạn đã phải chịu những hành vi bạo động trái phép, như chúng ta đều biết. Như chính Thanh đã kể lại trong một thông điệp:
6h tối hôm qua, lớp tiếng Anh căn bả sinh hoạt như thường lệ tại nhà một bạn trong nhóm, ngôi nhà này thường là chỗ lui tới của nhiều anh em, lớp học có 2 nữ, 4 nam, không đông như thường lệ. Đột nhiên, công an bất ngờ xông vào, rất nhiều người mặc thường phục, không đeo biển hiệu, có máy quay, dùng lời lẽ thô bạo uy hiếp chúng tôi. Họ bóp cổ anh Trung , chủ nhà, và bắt mọi người bỏ điệ thoạ di động lên bàn, không dùng laptop.
Sau đó, chúng tôi bắt đầu phản công, mọi người sau một hồi bất ngờ, bắt đầu lên tiếng chỉ tất cả các ông công an mặc thường phục, yêu cầu hnói rõ họ tên, lý do đột nhập nhà người khác không xin phép quay phim chụp ảnh không được phép, vi phạm quyền tự do cá nhân…
,,,Họ nói là đây là đoàn kiểm tra tạm trú tạm vắng, chúng tôi nói, các anh kiểm tra, nhưng không mặc quân phục, chúng tôi không biết các anh là ai…
Sau đó ít phút, họ bất ngờ không đối thoại, chuyến sang dùng vũ lực đưa chúng tôi về đồn công an (police station), nói là mời (invite) nhưng 2 công an lực lưỡng kèm một người, dùng sức mạnh, đánh nguội (strike secretly ), trước sự chứng kiến của đông đảo người dân xung quanh tôi cố gắng chống cự (một cách vừa phải), họ to tiếng đe dọa, và nhiều người dân đã trông thấy và lên tiếng bênh vực chúng tôi  rồi họ đưa về đồn, mỗi ngừoi bị đưa vào các phòng riêng….
“The man that watching his watch was the man hit me and took my phone away” – Hồ Đức Thanh

Họ không nói chúng tôi vi phạm gì, nhưng tra khảo và moi thông tin, họ dùng vũ lực lấy điện thoại trong túi quần tôi, và những ngừoi khác cũng thế ….sau đó họ ép tôi ký vào biên bản (paper) , nói rằng tôi không có giấy tờ chứng minh nhân dân, và đấy được cọi là vi phạm.  Tôi không đồng ý, vì theo luật, họ phải bắt quả tang tôi đang vi phạm, rồi sau đó mới có quyền yêu cầu tôi xuất trình ID card (giấy chứng minh nhân dân) và cứ thế đôi co, cuối cùng họ giữ điện thoại tôi, và để tôi về, tôi không biết sẽ lấy lại điện thoại bằng cách nào
Nhưng em nói anh điều này, khi 5 ông công an làm việc với em, một ông có vẻ là sếp, mặc thường phục (not uniform) chất vấn em, em ngắt lời, hỏi ngay : xin lỗi anh tên gì, khi làm việc với công dân anh bắt buộc phải mặc đồng phụcđeo bảng tên, và em nói thế 3 lần với 3 người, và họ đều dừng lại, và buộc phải để cho các ông khác có đồng phục làm việc vì vậy có thể thấy, nếu người dân dũng cảm, yêu cầu cơ quan công quyền làm đúng qui định, thì họ sẽ phải làm, họ biết rõ những gì họ được làm, không được làm. Đa số các trường hợp , khi công dân bị mời vào đồn công an (police station), người dân rơi vào thế bị động, họ dễ dàng quên đi những quyền mình có.
Trong những tháng tiếp theo, tức là đoạn cuối cùng trong cuộc đời, Thanh đã chịu rất nhiều áp lực từ mọi phía về những hành động hoàn toàn ôn hòa. Tôi thực sự chưa rõ về những nguyên nhân đã dẫn đến sự qua đời của Thanh, và tôi không suy đoán hay loại trừ khả năng đã có liên quan gì với những sự cố trong mua hè và những tuần tháng sau đó mà Thanh đã rơi vào tình trạng phiền muộn sâu.
Song, tôi hy vọng trong một tương lai gần, một chuyện như vậy sẽ không xảy ra được ở Việt Nam nữa.  Đến lúc đó và nhiều năm sau nữa, chúng ta sẽ nhớ mọi đóng góp của Thanh và những người khác, đã và đang trả một giá quá cao chỉ vì bày tỏ những chính kiến của họ một cách xây dựng và hoàn toàn bất bạo động. Ở Hàn Quốc, Đài Loan và các nước văn minh trong khu vực khộng có những chuyện xấu như vậy.
Mới tối hôm qua tôi đã nhớ đên bạn ấy khi đang chiếu một phim tài liệu về Ngải Vị Vị trong lớp của tôi ở TĐH City University of Hong Kong. Ông Ngải Vị Vị có nói một câu rất cảm động, và làm cho tôi nhớ đến Thanh. “If you know something and don’t say it, who are you?”
Tôi và nhiều người khác đã được biết Thanh là một người rất hiền lành. Dù nghĩ gì về chính trị, là thành viên của Ban Tuyên Giáo hay là dân thường ở ngoài bộ máy, chúng ta phải phấn đấu hướng tới một nước Việt Nam  thực sự đảm bảo nhân quyền. Riêng tôi sẽ nhớ Hồ Đức Thanh mãi.
Rest in peace. Sẽ nhớ.
JL